Hiển thị các bài đăng có nhãn truyen ma hay. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn truyen ma hay. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012

Ma Thổi Đèn Tập 3: Trùng Cốc Vân Nam - Chương 8: RỪNG RẬM


Shirley Dương trầm trồ :" Những cây hoa kia có lẽ là lan hồ điệp, không ngờ lại thu hút được rất nhiều bướm phượng vĩ hoàng kim ... cả bướm kim đới phượng ... còn có cả bướm kim tuyến đại thái rất hiếm gặp nữa, trông như những đám lá của cây vàng bị gió thổi đung đưa trong vườn hoa bên bờ biển Aegean của các vị thần trong thần thoại Hy Lạp ấy". 

Tôi không hiểu gì về loài bướm, giương ống nhòm nhìn hồi lâu, ngoài bươm bướm và cây cối hoa lá ra, chẳng thấy dấu hiệu của sơn cốc, khê cốc gì hết. Thảm thực vật ở đây quá dày, che kín mít mọi địa hình địa mạo, không thể nhận ra đâu là thung lũng đâu là khe suối, nhìn từ trên xuống, thấy cao thấp nhấp nhô, tất cả đều là những thực vật rậm rịt đặc trưng của vùng cận Bắc chí tuyến, rất khác với rừng rậm nguyên thủy ở Đại Hưng An Lĩnh mà chúng tôi quen thuộc. 

Vẫn có câu " cây trội giữa rừng, ắt bị gió quật". Tán cây ở Đại Hưng An Lĩnh thường cao xấp xỉ nhau, các loài cây có thể hợp sức để chống chọi gió lớn. Còn đây là vùng đất có nhiều sông núi vây quanh, bồn địa thung lũng nằm giữa có địa thế trũng thấp, mặt khác, Vân Nam bốn mùa như nhau, không có khí hậu gió mùa, những nơi càng thấp thì càng ẩm ướt triền miên, nhiệt độ cả năm đều giữ ở khoảng 25-30 độ C, quanh năm chẳng có một cơn gió, cho nên các loài thực vật cứ thả sức mà sinh trưởng. Trong rừng rậm, các loài cây leo thân to, thân gỗ và thân thảo tùy đặc tính của mình mà mọc cao thấp khác nhau, lô nhô xen kẽ, cao nhất là cây chò chỉ nổi tiếng của Vân Nam, cây này vốn chỉ có ở phía Nam chí tuyến Bắc, nhưng địa thế của vùng núi này thấp trũng nên cũng mọc không ít cây chò chỉ đội trời đạp đất. 

Chỉ có một số ít hồ đầm tương đối lớn mới không bị cây cối che phủ, những vùng càng sâu xa heo hút lại càng nhiều mây mù bao phủ, đứng xa nhìn không thể nhận ra điều gì. 

Tóm lại là không thể chỉ vì nhìn thấy những đàn bướm vàng cỡ đại kia mà chủ quan tiến vào rừng rậm, mức độ phức tạp của rừng rậm nơi đây khó có thể dùng lẽ thường mà suy đoán được. 

Bản đồ bằng da người được vẽ từ thời Hán, truyền đến ngày nay đã cách hai ngàn năm, những đặc trưng về địa hình địa mạo mà nó ghi chép nay đã biến đổi khác hẳn, ngoại trừ một số vật mốc và địa điểm đặc biệt ra, thì không thể dùng bản đồ này để tham chiếu chính xác được. 

Theo như lão mù nói thì cách đây vài chục năm, đoàn lực sĩ Xả Lĩnh của lão đã mang theo thuốc nổ thô sơ tiến vào Trùng cốc - chính là khu vực phía trước khê cốc hình thành bởi sông Rắn - khi ấy đã trông thấy một đàn bướm rất lớn. 

Nhưng ai dám đảm bảo rằng ngoài Trùng cốc ra các nơi khác đều không có bươm bướm, cho nên tạm thời chưa thể xác định nơi ấy chính là lối vào Trùng cốc, nhất thiết phải tìm ra đặc điểm mà lão mù nói: trong sơn cốc có một đoạn tường đổ nát. Đó là di tích của một bước tường cổ xây trên sông Rắn, hình như là một cái đập dùng để ngăn nước sông trong khi xây mộ Hiến vương, sau khi Hiến vương nhập liệm, liền bị đập đi, khôi phục lại "thủy long huân" trước mộ ông ta. 

Chỉ khi tìm thấy đoạn tường đổ ấy thì mới có thể coi đó là căn cứ để xác định vị trí của Trùng cốc, biện pháp chắc ăn hơn cả là làm như đoàn lực sĩ Xả Lĩnh năm xưa, ra khỏi núi Già Long, đừng vội tiến vào rừng, mà đi dọc theo mạch núi tiến lên phía Bắc để tìm sông Rắn, sau đó đi dọc theo sông Rắn tiến vào sơn cốc, như vậy có thể bảo đảm không đi chệch đường. 

Tuyền béo nói vẫn còn một cách khác, đó là lại lần vào nhánh sông đào bên trong núi Già Long, đi dọc theo đường sông cổ ấy để tìm sông Rắn. Nhưng vì thượng du sông Lan Thương mưa nhiều, các nhánh sông lớn nhỏ nối liền với nhau, thành ra vô cùng phức tạp, thậm chí còn có khả năng đã thay dòng chảy xuống lòng đất, con sông cổ sớm đã bị xác thực vật và bùn đất lấp kín, cho nên phương pháp mà Tuyền béo nói không khả thi chút nào. 

Ba chúng tôi bàn bạc một hồi, xem đồng hồ, lúc này là ba giờ rưỡi chiều. Khoảng 9 giờ sáng nay chúng tôi bắt đầu đi bè tiến vào núi Già Long, cho đến giờ vẫn chưa hề nghỉ ngơi, vì vậy bèn quyết định coi chỗ này là điểm chuyển tiếp, nghỉ ngơi hai mươi phút, sau đó sẽ đi lên hướng Bắc, tranh thủ tìm được lối vào Trùng cốc trước khi mặt trời lặn, rồi cắm trại ở đó, sớm mai sẽ tiến vào. 

Chúng tôi tìm một chỗ tạm bằng phẳng ở dốc núi ngồi xuống, ăn một ít bánh tẻ và thịt bò cho đỡ đói. Tuyền béo nhắc đến lũ cá ăn thịt người, nghĩ đến cái hồ trong núi máu me đỏ lòm chẳng khác gì "huyết trì" ở địa ngục trong truyền thuyết ... tôi phát ớn chẳng thiết ăn gì nữa. Tôi bỗng thấy chột dạ, nghĩ rằng lỡ mà đàn cá răng sắc hơn răng cưa ấy lại xuôi theo dòng rồi bơi vào sông Rắn thì sẽ phải làm sao đây? Nếu dưới nước có lũ cá ấy thì chúng tôi không thể nhảy xuống chui vào mộ Hiến vương được. 

Shirley Dương nói :" Đừng lo! Trước đây tôi làm phóng viên ảnh của tạp chí địa lý, đã từng đọc rất nhiều tài liệu về các loài động thực vật, cá rắn viper có mặt ở Ấn Độ, Myitkyina, Lào của châu Á và những vùng sông nước gần chí tuyến Bắc và các khu vực vĩ độ 20 của châu Mỹ". 

Trong đó thì Ấn Độ cổ là có nhiều nhất, kinh Phật chép rằng Ấn Độ thời A Dục Vương trị vì, từng có năm cá rắn viper đã trở thành mối đại họa. Năm ấy vừa đúng dịp sông Hằng dâng nước lũ lớn trăm năm chưa từng thấy, một dòng sông chảy ngầm dưới dãy núi Ghats Đông tràn vào một tòa thành gần đó, vô số người và gia súc đã bị làm mồi cho cá. 

Tổ tiên của cá rắn viper là cá lợn răng hổ sống vào thời kỳ hậu băng hà. Chúng sống ngoài đại dương, thân mình có bộ phận phát sáng, một đàn cá lợn răng hổ có thể trong nháy mắt hạ gục một con Basilosaurus, là bá chủ đại dương thời ấy. Về sau, những biến đổi to lớn của thời kỳ kế băng hà đã khiến loài cá này bị thiên nhiên đào thải một cách tàn khốc, hậu duệ của chúng là cá rắn viper cũng dần biến thành cá nước ngọt. 

Cá rắn viper ghê gớm thật nhưng lại có một nhược điểm rất lớn. Chúng chỉ có thể sống ở vùng nước có nhiệt độ tương đối thấp, quanh chí tuyến Bắc chỉ có những vùng nước lạnh trong các hang đá là thích hợp để chúng sinh tồn, ở những vùng nước ấy có một loài tôm vỏ cứng không mắt, nhiều vô kể, nhưng vẫn không đủ cho lũ cá này ăn, cho nên cũng thường xảy ra những cuộc tàn sát nội bộ. Một đàn cá rắn viper đông đúc, sau tháng Chín hàng năm thường chỉ có 1% sống sót đến thời kỳ đẻ trứng cuối cùng. 

Trung thu trăng tròn mỗi năm là thời kỳ cá rắn viper đẻ trứng, bản thân chúng không thể sinh tồn ở nơi quá nóng, nhưng lý do chúng sống ở vùng gần chí tuyến Bắc hơi ấm là bởi chúng phải đến miền nước ấm để đẻ trứng. Đẻ trứng xong, cá rắn viper chết luôn, trứng cá được ủ trong nước ấm để phát triển, nở thành cá con rồi lại bơi về vùng nước lạnh tiếp tục sinh tồn. 

Môi trường sống khác thường của cá rắn viper khiến chúng trở nên ít ỏi, không gian sinh tồn rất hẹp. 

Mùa này không phải kỳ đẻ trứng của chúng, cho nên khỏi phải lo chúng bơi ra ngoài hang động, nhưng lúc trở về thì phải thận trọng. Vì lượng mưa quá lớn, đường thủy trong núi Già Long thông nhau như mạng nhện, nếu trở về theo đường cũ không chừng sẽ gặp phải chúng ở một chỗ nào đó trong sơn động cũng nên. 

Nghe Shirley Dương giải thích tường tận về cá rắn viper, tôi và Tuyền béo mới hơi yên tâm. Tuyền béo cảm thấy lúc nãy mình tỏ ra nhút nhát, giờ muốn gỡ lại thể diện, bèn nói với tôi và Shirley Dương :" Bọn cá tôm thối tha thì làm được trò trống gì, tôi thấy chúng hơi ... cái gì ấy nhỉ, ấy là vì Mao chủ tịch đã từng dạy chúng ta rằng, về mặt chiến thuật thì phải coi trọng kẻ địch". 

Shirley Dương nói :" Chuyện về đàn cá thì không đáng lo, tôi vẫn nghĩ đi nghĩ lại mãi, hình như các pho tượng người treo ở giữa dòng sông không đơn giản là để nuôi con trăn khổng lồ kia đâu ... Trùng thuật vô cùng quái dị, thực sự là không sao đoán thấu được, may mà có đàn cá rắn viper vớ vẩn thế nào lại xông ra, nếu không đã xảy ra những chuyện gì cũng khó mà biết được. Chưa vào đến Trùng cốc mà đã gặp bao rắc rối rồi, chúng ta nhất định phải hành động cho thật chắc ăn, hết sức cẩn thân mới được ...". 

Sắc mặt ai nấy đều nặng nề, chuyện đổ đấu lần này là hành động liên quan đến sinh tử tồn vong, chẳng khác nào phi ngựa bên vách núi cao không có đường lui, chỉ cho phép thành công chứ không được thất bại. 

Ngồi nghỉ một lúc rồi, chúng tôi giở bản đồ tuyến độ cao của núi Già Long ra, bản đồ này cực kỳ đơn giản, sai số rất lớn, chúng tôi dùng la bàn so chuẩn hướng, xác định lại độ cao so với mực nước biển và phương vị, chỉnh sửa lại số liệu trên bản đồ, đánh dấu phương vị của lối ra, xong xuôi đâu đó ba người lại tiếp tục hành trình, lên đường đi tìm sông Rắn. 

Nhánh nhỏ nhất của sông Lan Thương chính là sông Rắn mà chúng tôi muốn tìm, đoạn sông chảy vòng qua núi Già Long nước rất xiết, chêch lệch độ cao vô cùng lớn, có khúc sông chảy luồn xuống lòng đất hoặc vũng sình lầy trong rừng, có chỗ lại chảy theo sườn núi rồi đổ thẳng xuống, thác này tiếp nối thác kia, lòng sông toàn là những xoáy nước khổng lồ, thuyền bè không thể đi qua, lại vì dòng chảy quanh co ngoằn ngoèo nên mới có tên là sông Rắn, còn người dân tộc Bạch ở đây gọi nó là "Chê La Lu Lam" nghĩa là " con rồng dữ bị núi tuyết lớn trấn áp". 

Theo lẽ thường thì tìm ra sông Rắn này không khó, nhưng kế hoạch thường khác xa thực tế, thảm thực vật dưới chân núi này quá dày, không thể nhìn được ra các con sông, chỉ còn cách đi men bên núi Già Long, dò dẫm chầm chậm tiến lên vậy. 

Đến lúc này tôi mới nhận ra rằng, ở cái chốn quái quỷ này cuốn "Thập lục từ âm dương phong thủy bí thuật" hoàn toàn không có đất dụng võ. Muốn nhận diện hình, thế, lý, khí thì phải nhìn rõ núi non sông ngòi ra sao, nhưng ở khu vực này đỉnh núi toàn là mây mù, dưới núi toàn là cây cối dày đặc tràn lan, chẳng khác nào cả vùng núi sông bị trát lên bề mặt một lớp bùn xanh đặc sệt, bên trên lại phủ một lớp bông trắng, không biết đâu mà lần. 

Rừng cây dưới vách núi dựng đứng lại càng khó đi, bước vào rồi, bướm chẳng thấy con nào, mà chỉ toàn là ruồi muỗi kiến độc to nhỏ đủ cỡ, lại không có đường đi, đứng trên cao nhìn xuống là một màu xanh rờn, đi vào mới thấy các loài dây leo chằng chịt đan kín, hầu như không có chỗ mà đặt chân, đành dùng xẻng công binh và dao phát mở lối, đồng thời còn phải đề phòng rắn độc và trùng độc tấn công nữa, những gian khổ ấy thật khó mà chịu đựng nổi. 

Lúc này mặt trời đã khuất sau núi, mặt đất đang dần bị bóng tối nuốt chửng, rừng nguyên sinh bị một tấm màn đen trùm lấp, mà chúng tôi còn chưa đi được bao xa, có lẽ không thể tìm ra sông Rắn trước khi trời tối, đành phải chọn một nơi tương đối an toàn để qua đêm vậy. Đêm tối trong rừng rậm luôn đầy rẫy hiểm nguy, đây lại là khu vực nằm giữa núi cao sông lớn, áp suất không khí rất biến động, chúng tôi cần tìm một nơi không có quá nhiều muỗi, côn trùng, và khô ráo một chút để đốt lửa cắm trại thì mới qua đêm được. 

Cuối cùng chúng tôi cũng tìm được một phiến đá xanh rất bằng phẳng nằm giữa hai cây đại thụ, chiếu đèn pin quan sát, thấy xung quanh không có rắn rết sâu bọ gì. Cả ba đều rất mệt, vội lấy nhiên liệu ra nhóm một đống lửa, xung quanh xếp đá nhỏ vây lại. Vì không khí quá ẩm, cần châm đuốc hơ khô phiến đá xanh, sấy khô rêu nấm và hơi ẩm ở các kẽ đá, sau đó mới trải các túi ngủ lên, kẻo khi nằm ngủ sẽ bị khí ẩm nhập vào người rồi sau này sinh bệnh. 

Shirley Dương đã ra khe suối gần đấy lấy nước mang về, lọc xong là có thể uống. Tôi lắp đặt một cái nồi dã ngoại cỡ nhỏ đun ít nước sôi, thả mì gia công mua ở quán trọ Thái Vân vào đun lên, không thêm gia vị gì hết kẻo mùi thơm sẽ thu hút loài động vật nào đó mò đến. Khi mì đã chín, chúng tôi bỏ thêm vài miếng bánh tẻ vào nồi, thế là xong bữa tối. Vì chưa biết còn phải đi trong sơn cốc này bao lâu nữa, nên chúng tôi cũng không nỡ mở đồ hộp ăn. 

Tuyền béo không ngớt ca cẩm thức ăn quá tệ, chẳng khác nào nhai lông chim. Nói đến chim, cậu ta liền thuận tay cầm lên cây "Kiếm Uy" lên định đi kiếm chút dã vị, nhưng trời đã tối hẳn nên đành thôi, rồi lại ngồi xuống, vừa ăn vừa lầu bầu trách tôi nấu chẳng ra sao, nhạt nhẽo vô vị, nhưng vẫn xơi liền ba bát to. 

Ăn xong, chúng tôi quyết định luân phiên ngủ để luôn có người canh chừng, dù sao trong rừng nguyên sinh này ba bề bốn bên đều có hiểm nguy rình rập, ai mà biết được đêm tối sẽ có trùng độc mãnh thú mò đến hay không. 

Ca đầu tiên do tôi canh gác, tôi ôm "Kiếm Uy", nạp đầy đạn cho khẩu súng ngắn 64, ủ đống lửa cháy âm ỉ, sau đó ngồi cách đó một quãng không xa, vừa ê a mấy câu hát quen thuộc cho đỡ buồn ngủ vừa cảnh giác quan sát rừng cây tối đen xung quanh. 

Đối diện với tôi là hai cây đa rất bề thế, thân to tướng như cột đá, tán cây buông rủ nặng nề trùm xuống như cái vung lớn, hai thân cây to xù ôm xoắn vào nhau bốn năm vòng như cái bánh quấn thừng, tạo nên một cặp cây phu thê hiếm thấy, trên thân cành còn có rất nhiều loại hoa và thực vật ký sinh chẳng biết tên gọi là gì, toàn cảnh trông như một cái lẵng hoa đủ màu sắc đặt giữa rừng rậm. 

Tôi đang mải mê ngắm nhìn, chợt bỗng nghe Shirley Dương đang nằm trong túi ngủ lên tiếng :" Hai cây đa ấy chẳng thọ được lâu nữa đâu, thực vật ký sinh trên cây nhiều quá, cây thì già cỗi, dinh dưỡng nhâp không đủ xuất để nuôi kẻ ăn bám, quá nửa thân cây đã rỗng rồi, nhiều nhất là vài ba năm nữa là cây sẽ chết khô. Có những sự vật đến giai đoạn tươi đẹp nhất thì lại cách thời điểm diệt vong không còn xa nữa". 

Tôi nhận ra ẩn ý trong câu nói của cô nàng, nói cái cây nhưng hình như lại ngụ ý nhắc đến lời nguyền động Quỷ đang ám vào chúng tôi. Tôi chẳng muốn nhắc đến những chuyện không vui, bèn nói với Shirley Dương :" Khuya rồi mà cô chưa ngủ à? Chắc là nhắm mắt lại thấy hiện lên hình bóng khôi vĩ của tôi, nên cứ trằn trọc không ngủ được chứ gì?". 

Shirley Dương đáp :" Nếu nhắm mắt lại là nghĩ đến anh thì tốt quá, lúc này tôi hễ nhắm mắt, trong đầu lại hiện lên những pho tượng người trong hang động núi Già Long, càng nghĩ càng thấy lợm giọng, cơm cũng chẳng thiết ăn, đến giờ cũng chẳng ngủ nổi". 

Tôi ngáp dài, rồi nói với Shirley Dương :" Cô đã không ngủ được chi bằng hãy phát huy tinh thần quốc tế chủ nghĩa, đổi gác cho tôi, bao giờ thấy buồn ngủ thì gọi tôi dậy". 

Shirley Dương cười cười nói :" Anh mơ hão vừa thôi, anh và Tuyền béo mà ngủ thì dù sấm vang bên tai cũng không tỉnh dậy. Tôi không ngủ được thì cũng không đổi gác cho anh, kẻo sau nửa đêm anh giả vờ chết không chịu dậy gác nữa thì chết!" 

Tôi lắc đầu thở dài :" Cô làm tôi thất vọng quá, những tưởng cô chẳng quản ngại đường xa vạn dặm, từ Mỹ sang đây để giúp đất nước chúng tôi xây dựng bốn hiện đại hóa, ban đầu vốn là sùng bái cô như sùng bái Bethune 1 ấy, trong thâm tâm luôn nghĩ cô là người có đạo đức và cao thượng, là người có ích cho nhân dân, là người từ bỏ những lạc thú thấp hèn, nào ngờ cô lại ích kỷ tự tư, chẳng quan tâm đến cảm nhận của chiến hữu gì cả, thì ra thái độ giản dị dễ gần mọi ngày của cô đều là giả vờ hết cả!". 

Shirley Dương nói :" Anh nói cũng hay lắm, nhưng lại quá là ba hoa khoác lác, cứ nói phét mãi cũng không hay đâu! Đằng nào thì cũng mất ngủ, chi bằng anh tiếp chuyện tôi đi, nhưng cấm anh không được nói những điều trong Ngữ lục 2 nữa". 

Rừng sâu im phăng phắc, không một làn gió nhẹ, dường như mọi động thực vật thảy đều ngủ say, thỉnh thoảng nghe thấy vài tiếng chim kêu lạ lùng từ xa vọng đến. Tôi buồn ngủ díp cả mắt, Tuyền béo nằm trong túi ngủ, rụt cả đầu vào trong, ngáy khò khò, ngủ say tít. Nhưng Shirley Dương không chịu đổi gác, tôi đành câu được câu chăng cố gượng chuyện trò với cô nàng vậy. 

Cũng chẳng hiểu sao, nói lan man mãi rồi lại nói đến những con trăn đại tướng ở trong rừng rậm. Tôi nói, trước đây ở Bắc Kinh tôi có gặp một đồng đội cũ cùng đại đội, nghe anh ta chuyện ngồi hầm tai mèo ở tiền tuyến. Hồi đó chiến tranh đang tạm bước vào giai đoạn cầm cự giữ miếng, trên chiến tuyến của cả hai bên đều chi chít hầm tai mèo, thực ra chính là chỗ ẩn nấp cho bộ binh phản kích, khi đào hầm tai mèo rất hay gặp trăn núi cỡ đại. Anh ta bảo với tôi, con trăn lớn nhất phải to như con rồng trong truyền thuyết, hồi đó tôi không tin, nay gặp trăn trong núi Già Long tôi mới biết rằng không phải họ nói bừa. 

Tuy nhiên, phần lớn các con trăn không hay chủ động tấn công người, chúng rất lười, cả ngảy chỉ nằm ngủ. Có một số anh lính ngồi hầm tai mèo nóng quá không chịu nổi, cởi trần ra vẫn nóng, bèn đi tìm một chú trăn to đang ngủ trên cây tha về hầm, cả mấy anh nằm nhoài trên mình trăn mát rượi mà ngủ, phải nói là còn dễ chịu hơn cả nằm phòng lắp điều hòa. 

Thế rồi con trăn ấy sống luôn trong căn hầm tai mèo, hằng ngày được người ta cho ăn thịt kho đóng hộp, ăn no rồi lại ngủ, về sau, có hôm chiến sự bỗng trở nên rất ác liệt, đối phương pháo kích liên tục chặn cả đường tiếp tế thức ăn. Một lần, do vị trí đào hầm bất lợi, bị một chùm pháo nã trúng khiến cả tiểu đội ngồi trong chết sạch. Lần khác, pháo bắn liền một tuần, xung qaunh trận địa kiến cũng không thấy đâu nữa. Trong hầm chẳng còn đồ hộp thịt kho, người có thể tạm nhịn ăn nhưng con trăn to thì không nhịn nổi, nó ở hầm đã quen, hằng ngày hít khói thuốc lá của các chiến sĩ, nên cũng đâm ra nghiện thuốc, đuổi thế nào cũng không đi, nó đói đỏ cả mắt, nên chỉ lăm le ăn thịt người, cuối cùng họ đành phải nổ súng bắn chết nó. Họ lột da trăn rồi trải trong hầm, ruồi muỗi chuột bọ đều sợ không dám vào. Có hôm đối phương lợi dụng đêm tối mò sang đánh khu hầm, chiến sĩ canh gác thì ngủ gật nên không phát hiện ra. Tên địch định ném bộc phá vào hầm, nhưng bỗng thấy mình như bị con trăn quấn chặt lấy không cựa quậy gì được, xương cốt gần như bị một sức mạnh ghê gớm ghì vỡ vụn nhưng trên mình rõ ràng là không có thứ gì cả. Hôm sau các chiến sĩ trong hầm tai mèo phát hiện ra tấm da trăn đó... 

Tôi kể chuyện phét cho Shirley Dương, về sau thì cả tôi cũng không hiểu mình đang nói gì nữa, cơn buồn ngủ xâm chiếm không sao gượng nổi, tôi cứ thế ôm "Kiếm Uy" ngủ lúc nào không hay.
--------------------------------
1Henry Norman Bethune, bác sĩ người Canada, chiến sĩ hòa bình sang giúp Giải phóng quân Trung Quốc trong những năm 1938-1939.
2Sổ tay ghi những câu châm ngôn của lãnh tụ ( phổ biến trong thời kỳ giáo điều, cách đây chừng bốn chục năm).

Chuyện ma quá giang ở Việt Nam

Tại Việt Nam, không hiếm trường hợp đã xảy ra. Một vài thí cụ điển hình mà chúng tôi xin lược kể ra đây là những trường hợp hoàn toàn có thật do các nhân chứng trong cuộc kể lại. 

Ông Trùm Mày, nhà ở Nam Giao, Huế, chuyên nghề chạy xe kéo, loại xe này rất phổ biến khoảng thời gian 1939 đến 1945. Một đêm nọ, trời gần khuya, ông Trùm Mày định kéo xe về nghỉ nhưng tự nhiên thay vì kéo xe chạy về phía cầu Gia Hội để về Nam Giao (qua cầu Trường Tiền), ông ta lại kéo xe chạy theo đường Hàng Đường để về cống Kẻ Trài. Xe chạy một quảng, ông bỗng thấy một cô gái mặc bộ đồ trắng, đội nón lá vừa bước lên vừa đưa tay vẫy vẫy ra hiệu cho xe ngừng lại. 

Ông Trùm Mày vội vã ngừng xe, cô gái có vẻ hấp tấp vừa đi vừa chỉ về phía trước vừa nói - tiếng nói nhỏ như sợ có ai nghe: - Chở tôi về bến đò chợ Bao Vinh. 

Ông Trùm Mày cố định thần nhìn cho kỹ mặt cô gái nhưng vì tóc cô để xõa nên chẳng thấy rõ mặt mày. Điều ông làm lạ là cô gái mảnh mai quá nên nhẹ tênh, ông kéo xe mà cảm thấy như chạy xe không. Qua khỏi cống Kẻ Trài và chạy độ hai mươi phút nữa, ông nghe tiếng trống trời khuya vọng lại. Bất giác ông chạy chậm xe và ngoái cổ lại để hỏi chuyện cô gái, nhưng lạ lùng chưa, cô gái không còn nữa. Chỗ ngồi trên xe kéo trống không và yên lặng một cách dễ sợ. Ông Trùm Mày sợ quá đến nổi gai ốc toàn thân, ông cấm đầu chạy thục mạng về nhà. 

Sáng mai lại, ông đem chuyện lạ hồi hôm kể cho ông Lý Trưởng ở làng Bình An nghe. Người lão bộc trong nhà ông Lý Trưởng cho biết ở quảng đường gần cống Kẻ Trài đến bến đò Bao Vinh có một cái am nhỏ thờ cô gái bị chết trôi, trước đó độ năm năm, cô gái này bị chết nơi bến đò gần cống Kẻ Trài, xác nổi lên và tắp vào bờ, vướng vào gốc và rễ những cây sanh già cỗi nơi bến và nhiều đêm hay xuất hiện than khóc hay chận đường người qua lại để hỏi thăm, chuyện trò hoặc xin đi nhờ nếu gặp ai có phương tiện chuyên chở đi qua đó. Theo người lão bộc (ông Ngọng) thì có lần hai người kéo xe bò qua đó cũng đã gặp cô gái từ dưới bến sông (Đông Ba) đi lên xin đi nhờ một quãng đường. Khi xe đi được khoảng nửa tiếng, thì bỗng nhiên họ nghe một tiếng "Bõm" như có vật gì rơi xuống sông. Ngay lúc đó hai người đánh xe bò rởn tóc gáy vì cô gái trên xe đã biến mất tự bao giờ (lúc đó khoảng một giờ sáng). 

Ở Huế có một địa danh đặc biệt là Ô Hồ. Xóm Ô Hồ gần trường tiểu học Gia Hội (Huế). Anh Hinh trước ở làng Đại Lược sau lên thành phố Huế làm nghề đạp xích lộ Chuyện xảy ra vào mùa hè năm 1956. Ở Huế mùa hè rất nóng, anh Hinh thường đạp xe đến quá khuya mới trở về nhà. Đêm đó, theo lời anh kể hình như là đêm 13 âm lịch, trời đầy trăng sao. Lúc đó khoảng 12 giờ khuya, anh đang đạp xe đi từ từ qua khỏi trường tiểu học Gia Hội và định tới chỗ quẹo sẽ đạp xe về đường đi Mười Gian. Khi chiếc xe xích lô vừa đến ngã ba thì anh thấy một người đàn bà đứng ngay nơi chỗ quẹo và đưa tay vẫy vẫy xe anh. Anh Hinh vội vã dừng xe lại. Dưới ánh trăng, anh thấy rõ gương mặt người đàn bà, rõ đến độ anh thấy nổi bật những dấu sẹo do bệnh đậu mùa để lại trên gương mặt người đàn bà. Anh hỏi: 

- Chị về đâu?" Người đàn bà vừa trả lời vừa bước lên xe: 

- Cho tôi đến Chùa Bà. 

Khi xe sắp đến đường quẹo thì người đàn bà ra dấu ngừng xe và lấy trong ví ra hai tời giấy bạc trao cho anh Hinh rồi lầm lũi đi vào một khu vườn to lớn trồng toàn là nhãn và vải, anh Hing nhìn thấy hai tờ giấy loại 100 đồng và lấy làm lạ vì số tiền quá lớn cho một cuốc xe quá ngắn đường. Hay người đàn bà đã đưa nhầm, tưởng đó là giấy 10 đồng, nhưng 10 đồng bạc cũng vẫn lớn đối với thời đó. Vốn là người lương thiện, anh Hinh nghĩ bụng đêm quá khuya, khu vườn nhà quá rộng và sâu hun hút không tiện vào kêu cửa, chi bằng sáng mai đạp xe ngang nếu thuận tiện ghé lại xem thử ra sao. Thế rồi anh ta cất kỹ hai tờ giấy bạc loại 100 đồng vào cái bóp để trong túi áo. Trước khi đạp xe về nhà, anh còn nhìn kỹ lại địa điểm mà người đàn bà có gương mặt rỗ hoa đã bước suống xe để vào khu vườn sầm uất. Điều đáng nhớ là ngay tại chỗ đó có một cây vông đồng rất lớn. 

Sáng hôm sau, khoảng 10 giờ, anh Hinh đạp chiếc xích lô đến địa điểm hồi hôm. Anh dừng xe lại bên cạnh cây vông đồng. Khu vườn rộng âm u và yên tĩnh quá, anh đẩy xe vào vườn. Xa tít phía trong khu vườn là căn nhà xưa cổ, cửa đóng then gài. Có lẽ gia chủ đã đi vắng. Anh đẩy xe ra, quang cảnh yên lặng lạ thường, qua một giàn hoa lài rủ xuống thấp lè tè có một ngôi mộ. Ngôi mộ này được chôn trong vườn nhà. Trưa hôm đó, anh ghé lại cái quán cơm gần Ô Hồ để ăn trưa, khi mở cái bóp trả tiền anh ngạc nhiên không thấy hai tờ giấy bạc đâu cả. Tìm mãi cũng chỉ có những đồng bạc lẽ mà anh đã có từ trước. Nhưng trong ví lại có hai tờ giấy trắng dài bằng cỡ hai tờ giấy bạc. 

Anh ngẩn ngơ suy nghĩ. Bỗng nhiên một cảm giác lành lạnh chạy dọc theo đường xương sống... như có một linh tính vụt đến... anh hỏi ngay người bán quán về khu vườn nơi gốc cây vông đồng và ngôi mộ trong vườn thì người bán quán cho biết như sau: 

- Khu vườn đó là của ông Cả Đễ. Ông có một người vợ bé, bà này ở chung với bà vợ lớn và bị bà vợ lớn của ông Cả Đễ ganh ghét, hành hạ đủ điều. Cách đây hai năm, bà vợ bé bị bệnh đậu mùa, người trong nhà sợ bị lây bệnh tìm cách lánh xạ Sau đó bà vợ bé chết. Ông Cả Đễ thương tiếc vô cùng, chôn ngay trong vườn. Hiện nay trong ngôi nhà ấy chỉ có một mình ông Cả Đễ thui thủi sống qua ngày nhờ nhuận lợi thu hoạch trong vườn mà thôi. Bà vợ lớn thì đã bỏ vào Đà Nẵng lấy chồng khác. Ông Cả từ đó có vẻ tàng tàng và mất trí... " Anh Hinh nghe đến đó thì tự nhiên tay chân run rẩy, mặt mày tái mét. Lúc bấy giờ anh mới kể hết mọi sự cho người chủ quán nghe. Sau cùng người chủ quán nói: 

- Như vậy là anh đã gặp đúng người vợ bé của ông Cả Đễ rồi! Với lại gương mặt rỗ hoa thì chính là bà ấy rồi, nhưng lạy vong linh bà ấy, bà linh hiển quá, tuy rằng bà ấy trả cho anh hai tờ giấy bạc giả, nhưng theo ôn mệ (cha mẹ) tôi ngày trước thường kể thì những người đã giúp đỡ ma thường hay được phù trợ. Như anh đã có lần chở hồn ma bà vợ bé ông Cả, chắc anh cũng sẽ đắt khách cho coi... "

Thứ Sáu, 17 tháng 8, 2012

Truyện ma Hồn người kiếp dê

Tiếng dê kêu mỗi lúc một rõ, ông lắng tai nghe và hoảng hồn. Vì tiếng dê phát ra từ bụng của ông. Ông vã mồ hôi, lẩm bẩm: - Chết rồi! Chiều nay ăn thịt dê ở nhà lão Duy, lão ấy mổ con dê mời cả xóm đến dự. Con dê đực màu trắng… Ông vội nôn ọe ra, nhưng không có cách gì ra được, có lẽ nó đã tiêu hết rồi. ông thấy người nôn nao khó chịu, bụng cứ óc ách.... ông lay vợ dậy. Bà vợ càu nhàu: - Có chuyện gì thế? Tôi mệt lắm, đừng bắt tôi phải chiều chuộng ông có gì để sáng sớm. Ông Khôi lập cập: - Không, tôi đâu có bắt bà làm chuyện ấy. Bà ơi tôi sợ quá! Bà vợ mở mắt, ngồi nhổm dậy tò mò: - Có chuyện gì mà ông sợ thế? Ông là tay xưa nay coi trời bằng vung, có biết sợ ai? Ông Khôi chỉ vào bụng mình và nói: - Tiếng dê kêu trong bụng của tôi. Nó kê be be nghe rõ mồn một. Bà vợ cười sặc sụa: - Ông thần hồn nát thần tính rồi, nốc rượu cho lắm vào. Hồi chưa ăn thịt dê, cái bụng nó óc ách khó chịu là phải, làm gì có tiếng dê nào? Ông Khôi nói: - Bà thì chỉ lo ngủ với ngáy, rõ ràng là tôi nghe tiếng dê kêu mà. Đó, bà có nghe không? Bà vợ ghé tai vào bụng chồng lắng nghe. Bà rụng rời tay chân: - Quả là có tiếng dê kêu thật. Tiếng kêu rất thảm thiết. Sao kỳ lạ vậy? Hay con dê này là ma quỷ? Ông Khôi thở dài: - Tôi làm sao mà biết được. Từ trước đến giờ mình vẫn ăn thịt dê, có sao đâu? Bà vợ thừ người: - Như vậy con dê của lão Duy có vấn đề. Sáng mai ông hỏi thử lão ấy xem sao? Con dê lão ấy mua ở đâu? Ông Khôi gật đầu nằm xuống ngủ. Tiếng dê không kêu nữa mà là tiếng người rên rỉ: - Mau trả lại thân xác cho ta. Tại sao các ngươi lại ăn thịt ta. Ông Khôi xanh cả mặt. - Dê kia ngươi vừa nói cái gì? Ngươi nói được tiếng người à? Tiếng nói cau có: - Ông đã ăn thịt của ta, ta bắt ông phải trả nợ.... Như ta đã bắt lão Duy đền tội. Hắn cả gan bắt ta đem thịt ta chia cho mọi người. Hễ ai ăn thịt ta phải trả lại cho ta... Ông Khôi lắp bắp: - Nhưng đâu phải chỉ có mình tôi ăn, còn mấy người khác mà.... mà tôi biết đền cho ông cái gì bây giờ...? Tiếng dê gắt: (??) - Con dê đó, anh Duy bắt được ngoài nghĩa địa. Nó là một con dê trắng. Anh ấy kể lại cho tôi nghe. Bốn người đàn ông rụng rời: - Con dê ở nghĩa địa à? Thôi rồi, mình ăn phải thịt con dê ma rồi. Hèn chi nó đòi mạng là phải. Bây giờ phải làm sao đây. Sao ông Duy liều thế nhỉ? Bà vợ ông Duy ai oán: - Con dê đó không chỉ là con dê ma. Mà nó chính là con ma hóa thành. Ông Khôi kinh hãi: - Ma à? Làm sao mà ma hóa thành dê được? Vợ ông Duy nức nở: - Đêm trước, ông Duy nhà tôi từ phía núi Dài về nhà, ông đi dự tiệc cưới của con người bạn. Lúc đó ông đã say chếnh choáng. Lúc qua nghĩa địa, gặp một người áo trắng. Ông Duy cứ tưởng là người. Lúc nói chuyện mới biết là ma, con ma đó đi bắt hồn ai đó. Con ma hỏi ông: - Thế anh là người hay ma? Ông Duy bảo: - Tôi là ma. Con ma mới chết nên còn nặng mùi thịt sống. Con ma cười lạt lẽo: - Thì ra là vậy, hèn chi tôi thấy mùi người. Trò chuyện một lát. ông Duy hỏi: - Ma quỷ sợ gì nhất? Con ma trả lời: - Ma quỷ chỉ sợ nước bọt của người sống. Ngoài ra ma không sợ gì hết. Thế là ông Duy nhân lúc con ma mải nói chuyện, liền nhổ bãi nước bọt xoa vào đầu nó. Con ma kinh hoàng rú lên rồi biến mất. Lát sau, có tiếng dê kêu. Một con dê trắng, ông khoái quá, liền dắt con dê về nhà.... Tôi nhìn con dê mà kinh khiếp. Mắt nó trợn trừng, lấp lánh sáng ghê rợn. Tôi hỏi con dê đó ông bắt ở đâu, ông kể lại như vậy. Tôi sợ quá: - Anh ơi! Anh rước ma quỷ về nhà rồi, mau thả nó ra đi, kẻo tai họa đó. Ông Duy gạt đi: - Đó là lộc của trời cho, ta phải tận hưởng. Ngày mai, tôi sẽ thịt nó để đãi bạn bè tôi, xem thử dê ma có ngon không? Tôi can ngăn hết lời nhưng anh ấy đâu có chịu nghe, bây giờ tai họa thảm khốc như vậy mình tôi phải gánh chịu.... Rồi ai nuôi hai con tôi đây ông Duy ơi là ông Duy.... Giọng bà vợ ông Duy nghèn nghẹn, đứt quãng. Ông Khôi bủn rủn tay chân. Mồ hôi vã ra như mưa: - Trời ơi, như vậy là thịt người chết chứ đâu phải là thịt dê. Ông Duy ơi. Ông làm khổ chúng tôi rồi. - Tôi phải xẻo thịt để đền cho con ma mất thôi. Ba ông kia mếu máo: - Có ai ngờ vì tham miếng ăn, bây giờ phải lãnh hậu quả như vầy. Biết làm sao bây giờ? Đám ma đã buồn, lại còn thảm hơn, khi bốn người lại ở trong tình thế nguy cấp. Mạng sống của họ bây giờ do ma quyết định.... Chôn cất ông Duy xong, ai về nhà nấy lòng trĩu nặng lo lắng, bồn chồn... Đêm đó, ông Khôi thao thức khiếp sợ, có hai người đến tìm ông và lôi ông đi. Ông chưa kịp phản ứng gì đã thấy mình ở dưới Diêm Cung. Ông thấy các ông: Hào, Du, Thuật có mặt ở đó. Diêm Vương lạnh lùng: - Quỷ vô thường, có đúng là bốn tên này đã ăn thịt ông không? Quỷ vô thường đau khổ: - Dạ đúng ạ. Cúi xin Điêm Vương bắt chúng đền tội. Chúng đã chọc tiết tôi rồi làm các món nhắm: xào lăn, tái, nướng, chúng nhai rau ráu, nhai đến đâu tôi đau nhức đến đó..... Diêm Vương quát: - Khôi, Hào, Du, Thuật. Các ngươi đã nghe rõ rồi chứ? Vì sao dám ăn thịt quỷ vô thường.... Bốn người cúi rạp xuống, lát sau ông Khôi thanh minh: - Dạ! Tâu Diêm Vương, quả thật chúng tôi không hề biết đó là thịt quỷ. Nếu biết có cho vàng chúng tôi cũng không dám ăn. Ông Duy không nói rõ, chỉ biết mời chúng tôi ăn. Chúng tôi vô tình thôi ạ... Diêm Vương gật đầu: - Ta đã hiểu điều đó. Lỗi này tất cả là ở tên Duy. Hắn cả gan bắt quỷ đang làm nhiệm vụ về ăn thịt mà đây cũng có lỗi của quỷ vô thường, tại sao lại để hắn lừa? Quỷ cúi đầu: - Dạ, tôi nhận nhiệm vụ của Diêm Vương bắt tên Khôi, nào ngờ bị tên Duy lừa. Hắn nhổ nước bọt xoa đầu tôi, bắt tôi hóa dê và nói rõ để cứu bạn hắn. Tôi chỉ than thầm vì mắc mưu hắn. Cứ ngỡ hắn sẽ thả tôi ra, tôi sẽ đáp đầu vào đá để trở lại kiếp quỷ nào ngờ hắn cả gan ăn thịt tôi, khiến tôi nham nhở thân xác như vầy. Cúi xin Diêm Vương lóc thịt chúng trả lại cho tôi. Diêm Vương cười nhạt: - Tội của ngươi ta chưa xử đâu, còn mấy người kia vì lỡ vô tình nên tha cho chúng. Chỉ bắt tên Duy phải đền mạng. Lôi tên Duy ra đây... Duy bị lôi ra, đóng gông ở cổ, tay chân bị xích chặt. Diêm Vương ra lệnh lóc thịt Duy trả lại cho quỷ vô thường. Duy la ầm lên vì đau đớn. Diêm Vương nói: - Sao lúc mi thịt dê mi không kêu đau.... Xong hình phạt ở Diêm Cung, ta phạt ngươi phải làm con dê trắng, lang thang nơi nghĩa địa và sẽ có người bắt ngươi về làm thịt. Còn bốn tên kia, ta cho về nhớ lần sau đừng có dại dột như vậy nữa. Cả bốn người mừng rỡ ra về... Ông Khôi thấy mình tỉnh dậy và lại nghe tiếng dê kêu, nhưng lần này không phải ở trong bụng mà ở ngoài nghĩa địa. Vì nhà ông cũng ở gần đó, ông sực nhớ lời Diêm Vương phán, vội chạy ra. Quả thấy con dê trắng. Ông nghĩ ông Duy đã có công bắt quỷ cứu mình khỏi chết nên chạy đến ôm con dê vào lòng. Con dê ngoan ngoãn trong tay ông.... Ông đưa con dê trắng về nhà cho vào chuồng rồi chăm sóc chu đáo. Ai hỏi mua ông cũng không bán. Vì ông biết đó là ông Duy hóa thành. Ông tâm sự với dê trắng như với người bạn. Vợ ông thắc mắc: - Con dê đó bán được khối tiền không bán, lại cho ăn sung mặc sướng. Ông quả là lẩm cẩm. Ông Khôi trợn mắt: - Con dê này có ân với tôi đó. Nó là bạn tôi..... Bà có biết nó là ai không? Bà vợ tò mò: - Thế con dê trắng đó là ai? Ông Khôi thì thầm. Bà vợ bủn rủn tay chân, lắp bắp: - Trời đất, ông nói thật đấy chứ. Để tôi qua nhà ông ấy báo cho vợ ông ấy biết. Ông Khôi lắc đầu: - Đừng, làm vậy thì chỉ làm khổ thêm cho bà ấy cứ để ông Duy ở đây sống cho trọn kiếp dê. Bà vợ đồng ý.

Thứ Năm, 16 tháng 8, 2012

Mỗi chuyến đi là một người tình

Tôi đã đau đến tận cùng khi phát hiện ra chồng mình say nắng một em trong chuyến đi công tác của anh. Trong suốt quãng thời gian ấy, tôi như kẻ chết rồi. Ngoài mặt vẫn hơn hớn nói cười mà lòng thì héo rũ. Bởi sĩ diện. Bởi tự ái.
Tôi không kể cho bất cứ ai nghe. Tôi giữ trong lòng mình. Gặm nhấm nó. Để rồi đau càng thêm đau. Như vết thương bỏ mặc lâu ngày khiên nó hoại tử. Mặc dù chồng tôi đã cố gắng hết sức để chuộc tội thì tổn thương này vẫn là vĩnh viễn trong tim tôi. Trong góc sâu thẳm nhất. Tôi vẫn nói rằng tôi tha thứ cho anh ta rồi. Nhưng là chỉ nói vậy. Để giữ lại gia đình.
Còn trái tim của tôi thì nó đã hóa thạch. Đã nhiều lúc nghĩ rằng: Chồng mình đã phản bội mình thì mình giữ mình làm gì nữa? Nhưng rồi, cũng vì sĩ diện, tôi đã không làm điều đó: Phản bội lại chồng. Nhưng càng vậy thì nỗi đau lại càng khét lẹt trong tôi. Ôi phụ nữ thật lắm lý lẽ để làm đau chính bản thân mình. Để rồi, tôi đã quyết định làm một điều khác thường: Lập ra một Facebook mới, một hồ sơ mới, một cái tên mới.
Facebook của tôi dùng ảnh nước ngoài làm avatar. Facebook của tôi xây dựng lên một cái tên hoàn toàn mới và rất khiêu khích. Tôi tự tạo ra một cuộc đời mới cho chính cái tên mới đó. Là tốt nghiệp trường Đại học mà hồi bé tôi mơ ước vào. Là năm sinh già hơn tuổi thật của tôi. Là những điều không phải là tôi. Như sở thích. Như mong muốn. Như nhiều điều khác nữa khiến cho tôi thiết lập được một đám bạn bè mới gần như không liên quan gì đến mọi người tôi biết ngoài đời.

Trong những người tình ấy, chỉ có T là người yêu tôi thật sự (Ảnh minh họa)
Là một mạng lưới bạn bè mới toanh. Tôi bắt đầu sống hai cuộc đời từ đó. Khi lên mạng, tôi trở thành một con người hoàn toàn khác tôi ngoài đời. Tôi trên Facebook lả lơi hơn, tình hơn và dễ dãi hơn. Tôi chấp nhận những cuộc gặp offline và thu nhận được hàng chục lời bay bướm. Tôi lựa chọn trong số đó những anh chàng ưng mắt và vờ như bị yêu họ.
Những cuộc cà phê tranh thủ giữa trưa. Những chuyến công tác xa nhà. Mỗi lần tôi đều có cho mình một mảnh tình mới. Không ràng buộc. Tôi thú thật là tôi đã yêu thích con người ấy hơn cả con người thật của mình. Những cuộc tình chóng vánh. Tôi gọi nó là những cuộc nhảy dù có tính toán. Số bạn trai dày lên theo từng chuyến bay ấy. Nhưng sự tổn thương dường như đã ám chặt vào máu.
Dù tự xây dựng ra cuộc đời mới thì tổn thương cũ vẫn đeo bám chặt lấy tôi. Cho đến T, một chàng trai kém tuổi tôi, đã không ngừng tấn công tôi cả trên Facebook lẫn ngoài đời trong những cuộc gặp gỡ. T yêu tôi thực sự. T muốn cưới tôi.
Cậu bất chấp tất cả, tìm mọi cách để điều tra về tôi. Hôm ấy, cậu đứng trước cổng công ty tôi. Và cậu cố tình làm quen với chồng tôi khi thấy anh đang đứng chờ đón tôi. Khỏi phải nói lúc ấy tôi đã sợ hãi đến nhường nào. Hôm sau, tôi gọi điện cho T, mắng cậu một trận điên đảo. Rồi lôi tuột cậu vào nhà nghỉ. Một trận tơi bời. Rồi lại khóc. Rồi lại mắng chửi cậu. Tuốt tuột mọi ẩn ức tôi đều nói hết ra với T.
Cậu lắng nghe tôi và rồi cậu nói: Q ạ, cuộc đời không quá dài để ta phung phí! Q hãy lựa chọn đi, về với chồng và từ bỏ mọi mối quan hệ hoặc làm vợ của T, T thề danh dự là sẽ không bao giờ nhắc tới chuyện quá khứ của Q. T cho tôi lựa chọn. Cậu còn đe dọa: Nếu quyết định chọn quay về với chồng mà vẫn duy trì cái Facebook kia thì T sẽ là người thông báo hết mọi chuyện của Q với chồng Q.
Tôi đã quay trở lại với chồng mình. Từ bỏ Facebook kia. Làm lại cuộc đời mới từ chính những đổ vỡ cũ. Và rồi tôi nhận ra rằng chỉ có tha thứ mới khiến chúng ta sống có ích hơn trong chuỗi ngày ngắn ngủi phía trước. Cảm ơn T, cảm ơn T đã giúp tôi trở lại để thay đổi.

Thứ Tư, 15 tháng 8, 2012

Bóng ma trở lại vùng hoang thôn

Bóng ma trở lại vùng hoang thôn - Trong cuốn “Quán trọ Hoang thôn” có kẹp thêm một tấm thẻ - vé một chiều của người dũng cảm tới quán trọ Hoang thôn. Sau khi bạn cắt tấm vé, có thể lấy giấy biên nhận bưu kiện của người mê sách gửi lại cho nhà xuất bản là sẽ có cơ hội nhận được cuốn “Địa ngục tầng thứ 19” có chữ kí của tác giả. Do trong thời gian chưa tới một tháng, nhà xuất bản chuyển cho tôi vô số thư của độc giả, tuyệt đại đa số trong thư đều có giấy biên nhận bưu kiện của người mê sách, ngoài ra còn có rất nhiều lớn nhắn nhủ và thư kèm theo của độc giả. Trong đó có những bức thư thực sự đã khiến tôi xúc động, nhưng tôi cũng cảm nhận ra rất nhiều vấn đề vô cùng kỳ quái, ví dụ như có rất nhiều người hỏi tôi cách tới Hoang thôn, tốt nhất là nên có cả vé khứ hồi, cũng có người hỏi thăm tôi cách liên lạc với Xuân Vũ, còn có cả người nói rằng họ cũng đã từng đến Hoang thôn. Vẫn may, đến nay tôi vẫn chưa nhận được một bức thư nào tới từ Hoang thôn. Nhưng cũng có thể có một bức thư ngoại lệ, bởi tôi không biết nó được gửi từ đâu tới, trên phong bì không có tem cũng chẳng có dấu ngày tháng, càng không có họ tên và địa chỉ người gửi thư, chỉ có họ tên và địa chỉ người nhận – có trời mới biết được bức thư này sao lại có thể gửi tới được nhà xuất bản! Tội nhận được bức thư này vào tối ngày 19, một đêm lạnh giá của Bắc Kinh. Mấy ngày hôm đó đúng dịp nhà xuất bản mới tôi tới Bắc Kinh để tuyên truyền cho hai cuốn sách mới và nhân tiện đón tiếp luôn giới truyền thông tới phỏng vấn. Tối hôm đó sau khi đã xong xuôi các hoạt động, tôi mệt mỏi rã rời nên liền chạy tới “Trà mã cổ đạo” bên bờ biển Hậu Hải, cùng em gái phụ trách biên tập uống rượu gạo thơm phưng phức để phục hồi sự mệt mỏi. Ngày mai tôi phải rời khỏi Bắc Kinh trở về Thường Hải rồi. Em gái phụ trách biên tập đưa cho tôi một xấp thư dày cộm của độc giả, càng thu hút ở chỗ những bức thư này không biết từ đâu tới. Phong bì loại màu trắng thông thường, chữ viết và địa chỉ người nhận cũng rất phổ thông, nhìn không ra kiểu người nào viết. Tôi cầm phong bì lật đi lật lại, thực sự không tưởng tượng nổi nó được gửi bưu điện kiểu gì, lẽ nào trên thế gian này thực sự tồn tại một hòm thư thần kỳ nào đó? Có lẽ là do sự nhảy cảm bẩm sinh của nhà văn, tôi bỗng có một giác quan thứ sáu rất kỳ quái, quay đầu nhìn biển đóng băng, có một người đàn ông trượt băng rất cừ, không ngừng lướt thành hình vòng tròn trên mặt băng. Nhìn người đàn ông trượt băng đó, trong đầu tôi lập tức xuất hiện một vòng tròn lóe lên, trắng trẻo trong veo như mặt băng vậy. “Ấy, nghĩ gì thế?” Em gái phụ trách biên tập kéo tôi ra khỏi sự suy tưởng, tôi hít một hơi thật sâu nói: “Không có gì, chỉ nghĩ tới một thứ.” Tôi không nói tiếp nữa mà nhẹ nhàng xé chiếc phong bì ra, bên trong vẫn là giấy biên nhận bưu kiện của hội người mê sách, một tấm thẻ cứng, độc giả sẽ để lại họ tên và phương thức liên lạc trên đó. Khi tôi lấy cái thẻ đặc biệt này ra, em gái phụ trách biên tập bỗng nhiên chau mày nói: “Ây, một mùi thơm thật kỳ lạ.” Quả nhiên, tôi cũng ngửi thấy một mùi hương kỳ dị, nồng nặc tỏa ra từ trong tấm thiệp, mùi hương hoàn toàn khác hẳn với rượu gạo trong cốc của chúng tôi. Nhưng hương thơm này chỉ duy trì khoảng vài giây, chớp mắt cái đã bay mất trong quán ăn “Trà mã cổ đạo”. Em gái phụ trách biên tập vẫn khịt khịt mũi nói: “Bay mất trong giây lát rồi này.” Tôi lại di chuyển ánh mắt lên chiếc thẻ đặc biệt, bởi vì nó thực sự quá đặc sắc – trong mục họ tên có viết một kí hiệu: Đây chính là họ tên của đối phương? Hình như không tồm tại chữ Hán nào thế này, theo như tôi biết thì trong bất cứ văn tự nước ngoài nào hình như cũng không có cái này, đại khá chi trong giáp cốt văn hoặc chữ tượng hình Ai Cập cổ mới có mà thôi. “Kỳ lạ, giống như một miệng giếng” Em gái phụ trách biên tập thu lại nụ cười đáng yêu, nhìn chằm chằm vào cái “họ tên” kỳ dị nói. Thực sự giống một miệng giếng, là góc độ đứng trên miệng giếng nhìn từ trên cáo xuống. Tôi gật gật đầu nói: “Trong sân sau của Tiến Sỹ Đệ Hoang thôn cũng có một miệng giếng”. “Miệng giếng trong tiểu thuyết của anh mà vợ thế bị dìm chết trong đó!” “Đúng, đây chính là một chi tiết bị anh bỏ sót trong ‘Quán trọ Hoang thôn’ của mình, có lẽ miệng giếng đó cũng ẩn giấu một câu chuyện thê luong mà đẹp đẽ”. “Hay là một… u hồn?” Tim bất giác giật thót một cái, hết cách rồi, lời của cô ấy toàn nhắm trúng nỗi sợ hãi của tôi. Tôi chỉ biết cúi đầu tiếp tục nhìn tấm thẻ, dưới mục họ tên lần lượt là giới tính, tuổi tác, trình độ văn hóa, điện thoại và e-mail liên lạc, tất cả những mục này đều để trống không điền, chỉ trong mục địa chỉ cụ thể (gồm cả mã bưu điện) có viết một dòng…. Tôi không biết có nên gọi chúng là “chữ” hay không, có lẽ gọi là ký hiệu thì chính xác hơn. Bất luận bạn tin hay không, tôi thực sự nhìn thấy những kí hiệu này trên tấm thẻ, bàn phím không thể nào gõ ra những kí hiệu đó, sau này tôi phải dùng cách scan để quét lên máy tính. Em gái phụ trách biên tập nhấp một ngụm rượu gạo, hỏi: “Đây là cái gì nhỉ?” Sau đó tôi trầm ngâm hồi lâu, hai mắt nhìn chằm chằm vào những kí hiệu này, trong lòng âm thầm đếm, tổng cộng có bảy kí hiệu, chúng giống như bảy chú lùn tà ác, lắc lư thân mình trên thẻ biên nhận bưu kiện người mê sách của tôi, múa may một điệu nhảy ma thuật cổ xưa nào đó. Đôi môi mất tự chủ bắt đầu run rẩy, tôi chỉ biết ép mình phải trấn tĩnh lại, tì mỉ quan sát bảy kí hiệu này. Đây rút cuộc là loại văn tự cổ xưa nòa, hay là một loại mật mã đặc biệt nào đó, hoặc là một nhóm tranh hàm chứa thâm ý gì chăng? Nhưng tôi không đoán ra được chút nào, càng nhìn chằm chằm vào chúng, mắt tôi càng đau nhức, chúng như kim châm đạm chọc vào con ngươi của tôi. Còn trong đầu tôi lại không ngừng mọc lên các kiểu suy nghĩ kỳ quái, dường như bảy kí hiệu này có thể đem tôi tới một thế giới khác. “Xem này, kí hiệu vòng tròn cuối cùng giống hệt với họ tên”. Đúng là tinh như mắt con gái, lời nhắc nhở của cô ấy khiến tôi chú ý tới kí hiệu thứ bảy đó – , và trong mục họ tên điền trên tấm thẻ cũng là . Như thế này nghĩa là gì chứ? Chắc là trong mục địa chỉ cũng điền thêm họ tên nhỉ? Trời ơi, đây lại là địa chỉ và họ tên của môn tử nào đây? Tôi lòng đầy nghi ngờ lắc lắc đầu, quả thực bất lực với bức thư không rõ lai lịch này. Tôi lại nhìn vào trong phong bì, hình như chẳng còn thứ gì khác cả. Khi tôi đang chuẩn bị nhét giấy biên nhận bưu kiện lại vào trong phong bì, em gái phụ trách biên tập lại nhắc nhở tôi: “Xem xem phía sau tấm thẻ”. Vẫn là cô ấy kịp thời nhắc nhở, tôi lập tức lật lại tấm thẻ, chỉ thấy sau mặt thẻ có in một bức ảnh. Không đúng, phía sau tất cả các tấm thẻ đều bỏ trống, sao lại có ảnh chứ? Vậy là tôi trợn tròn mắt, nhìn chằm chằm vào bức ảnh mặt sau tấm thẻ, bỗng chốc giống như bị điện giật, toàn thân tê liệt cứng đờ. “Cô ấy là ai?” em gái phụ trách biên tập nghi ngờ nhìn bức ảnh “Đẹp quá, ánh mắt cô ấy có một khí chất đặc biệt”. Hóa ra mặt sau tấm thẻ có in hình khuôn mặt một cô gái, nền phía sau chính là màu trắng của tấm thẻ, giống như cô ấy hiện lên trên tấm thẻ vậy. Cô gái trong tấm thẻ có mái tóc dài đen óng, một khuôn mặt thanh tú, ánh mắt phảng phất xa xăm vô định. Đặc biệt nhất là đôi mắt của cô ấy, vừa có cả sự bí ẩn cuốn hút, lại ẩn chứa cả chút u buồn và hoảng hốt, giống như Nhiếp Tiểu Sảnh trong “Liêu trai chí dị”, khiến người ta bất giác nảy sinh lòng thương cảm. Em gái phụ trách biên tập không đợi tôi trả lời, tiếp tục phân tích nói: “Cảm giác không giống với người thường, em cảm thấy cô ấy có chút gì đó giống với Tiểu Chi dưới ngòi bút của anh trong Quán trọ Hoang thôn”. Trời ơi, phụ trách biên tập của tôi lại lần nữa nhắm trùng tôi rồi, khiến tim tôi vốn đang đóng băng bỗng đập thình thịch trở lại… Trầm tư một hồi lâu, tôi rút cuộc đáp lại: “Không sai, cô ấy chính là Tiểu Chi!” Cô ấy chính là Tiểu Chi! Lại một lần nữa đối diện với khuôn mặt sau tấm thẻ, rút cuộc là cảnh trong giấc mơ hay là hiện thực? Là mùa hạ Thượng Hải nửa năm trước hay là đêm đông Bắc Kinh thời khắc này? Tôi ra sức dụi mắt, không sai, chính là khuôn mặt in trên mặt sau tấm thẻ này, khuôn mặt khiến người ta vĩnh viễn không thể nào quên, khuôn mặt lúc ẩn lúc hiện trên tấm kính cửa sổ tàu điện ngầm. Em gái phụ trách biên tập cũng tròn xoe mắt, kinh ngạc hỏi: “Trời ơi, cô ấy chính là Tiểu Chi? Em cứ nghĩ rằng Tiểu Chi chỉ là nhân vật trong tiểu thuyết, vốn không tồn tại trong nhân gian”. “Đúng vậy, cô ấy giờ đây đã không còn trên nhân gian nữa rồi. Nhưng cô ấy đã từng tồn tại trên thế giới này, đã từng mặt đối mặt với anh…” Nói tới đây tôi dừng lại, cúi đầu nhìn cô gái trong tấm thẻ, im lặng hồi lâu. “Nhưng là ảnh của Tiểu Chi, sao lại in lên phía sau thẻ biên nhận bưu kiện của người mê sách chứ?” “Em không biết. Từ trước tới nay em chưa từng nhìn thấy ảnh cô ấy, những hình dung về cô ấy vĩnh viễn nằm trong trí óc em, mãi mãi không phai nhòa”. “Kỳ lạ, là ai có được bức ảnh của Tiểu Chi lúc còn sống rồi in nó lên mặt sau tấm thẻ và viết cả lên đây những ký hiệu kỳ quái này, lại còn không cần phải dán tem gửi tới nhà xuất bản của chúng ta?” Lúc này, ngoài cửa sổ “Trà mã cổ đạo”, mặt băng trên bờ biển Hậu Hải tỏa ra ánh sáng phản quan le lói. Tôi nhìn chăm chăm vào tấm thể này, lật lại xem xem, nó giống như bưu thiếp của một u hồn, và đã đưa đến tay tôi thế này đây. Cuối cùng, tôi từ từ bỏ chiếc thẻ vào lại phong bì, sau đó nhét vào túi áo, nói: “Tính tiền”. Ra khỏi “Trà mã cổ đạo”, chúng tôi đi men theo con đường ven bờ biển Hậu Hải, hướng về phía trước. Tôi đã chẳng còn tâm trí nào để thưởng thức cảnh sắc của mặt biển đóng băng, chỉ biết không ngừng sờ lên túi áo ngực, bên trong có đừng “bức thư u hồn”, và tấm ảnh của Tiểu Chi trên mặt sau tấm thẻ chắc cũng đang đặt đúng trước vị trí trái tim tôi. Tên cô ấy là Tiểu Chi. Âu Dương Tiểu Chi. Cái tên này là băng trong đêm tối. Trong suốt và trí mạng, chớp mắt cái sẽ tan chảy thành nước. Tiểu Chi đến từ Hoang thôn. Theo như miêu tả trong tiểu thuyết của tôi. Hoang thôn thuộc thị trấn Tây Lãnh của thành phố K, tỉnh Chiết Giang, tọa lạc “giữa biển và nghĩa trang”, do mặt thôn hướng về một vùng bờ biển hoang sơ nên gọi là Hoang thôn. Tại cổng vào Hoang thôn, có một tấm bia tiết hạnh – “Trinh Liệt Âm Dương” được hoàng đế triều Minh ngự giá ban tặng. Nó giống như một cái khóa khổng lồ khóa chặt lấy Hoang thôn, những người trong thôn hiếm khi ra ngoài, cũng rất hiếm có người ngoài bước vào Hoang thôn. Truyền thuyết đáng sợ hơn đó là: phàm là những người từ nơi khác tới tự ý xông vào Hoang thôn, đều sẽ chết một cách bí ẩn trong một thời gian ngắn. Ngôi nhà cổ “Tiến Sỹ Đệ” trong Hoang thôn, do có một người đỗ tiến sỹ triều Minh mà được đặt tên như vậy. Âu Dương gia của “Tiến Sỹ Đệ” là gia tộc lâu đời nhất Hoang thôn. Âu Dương tiên sinh – chủ nhân của ngôi nhà cổ, có một cô con gái duy nhất tên là Tiểu Chi, cô là người đầu tiên rời Hoang thôn lên Thượng Hải học đại học. Thật không may, trong một sự cố tàu điện ngầm ngoài ý muốn xảy ra năm 2003, Tiểu Chi khi đó đang đứng đợi tàu ở bến đã bị đâm chết, không lâu sau, cha cô cũng lâm bệnh qua đời. Gia tộc lâu đời Âu Dương kể từ khi đoạn tuyệt hương hỏa. “Tiến Sỹ Đệ” cũng trở thành một ngôi nhà để không bí ẩn. Trong vô số những đêm đen, u hồn lặng lẽ ẩn hiện trong góc nào đó của ngôi nhà cổ này… Truyện ngắn “Hoang thôn” của tôi đăng trên tạp chí “Chồi non” số tháng 4 năm 2004, kể từ đây cuộc sống của tôi đã bị quấy rối bởi các kiểu ghé thăm của độc giả. Một ngày mùa hạ, bốn sinh viên của trường đại học S đột nhiên ghé thăm nhà tôi, tên của họ lần lượt là Hoắc Cường, Tô Thiên Bình, Hàn Tiểu Phong và Xuân Vũ. Sau khi đọc “Chồi non”, họ đã vô cùng hứng thú với Hoang thôn, quyết định tới Hoang thôn thám hiểm, nhưng tôi từ chối nói cho họ biết vị trí của Hoang thôn. Không thể tưởng tượng nổi, bốn sinh viên này đã tự mình tìm thấy Hoang thôn. Bốn người đã gặp phải những trải nghiệm đáng sợ, rút cuộc họ cũng đã trở lại Thượng Hải. Nhưng vận đen hình như đeo bám không buông tha cho họ, chỉ trong vòng mấy ngày ngắn ngủi, bốn người lần lượt xảy ra chuyển: Hoắc Cường và Hàn Tiểu Phong chết trong cơn ác mộng, Xuân Vũ bị đưa vào bệnh viện tâm thần, còn Tô Thiên Bình lại mất tích, bặt vô âm tín một cách bí ẩn. Hiện giờ, trở lại đêm đông Bắc Kinh ngày 19 tháng… năm 2005, tôi và em gái phụ trách biên tập đi qua bờ biển đóng băng, bên đường kín mít những quán rượu nhỏ, bên tai không ngừng vang vọng tiếng đàn ghita, còn có cả không ít khẩu âm Đông Bắc ồn ào của những bác bán rượu đang mời gọi khách. Trong đó có một quán rượu sáng tạo nhất treo tấm biển trước cửa – “Vây quanh lò sưởi ấm, miễn phí khoang lang”, thật buồn cười. Yê! Cuối cùng cũng đã nhìn thấy cầu Ngân Đính mà tôi đã ngưỡng mộ từ lâu rồi! Tôi chạy tới bên lan can xinh xắn của chiếc cầu, nhìn xuống mặt băng phía dưới nói: “Chỉ là cầu hơi nhỏ một chút, hình như cũng chỉ đến thế này mà thôi”. Em gái phụ trách biên tập cười trách móc: “Anh không phải là Diệp Công thích rồng sao?” Đúng lúc tôi tạm thời quên đi "nghi ngờ” ban nãy, muốn thư giãn cười lên thì nhạc tin nhắn điện thoại lại vang lên không đúng lúc. Tôi chầm chậm móc điện thoại ra, nhìn thấy người nhắn tin hóa ra là Tô Thiên Bình! Phút chốc, trên cầu Ngân Đính giữa mùa đông Bắc Kinh, tôi cảm thấy tim mình lại chìm xuống đáy nước, giống như mặt nước Hậu Hải đang đóng băng dưới chân cầu này. Sao lại là Tô Thiên Bình? Cậu ta chính là một trong số bốn sinh viên đã từng tới Hoang thôn nửa năm trước, sau khi từ Hoang thôn trở về chưa được bao lâu, cậu ấy đã trải qua những ngày tháng khủng hoảng. Để trốn tránh ác mộng trí mạng, cậu ấy đã trốn trong tiệm internet không biết tới ngày đêm, kết quả là bị ngất lịm đi. Cậu ấy hôn mê mười mấy ngày trong bệnh viện, rút cuộc lại tỉnh dậy như một kỳ tích rồi quay trở lại trường đại học S. Sau khi Tô Thiên Bình mất tích trở về đã từng một lần đích thân tới tìm tôi, nhưng sau này, cậu ấy không còn liên lạc với tôi thêm bất cứ lần nào nữa, tôi gần như cũng quên mất cậu ấy rồi. Kỳ lạ, bao lâu nay không liên lạc, sao đột nhiên lại nhắn tin cho tôi vào lúc này? Tôi nghi ngờ mở tin nhắn ra, nội dung chỉ có ba chữ. Cứu tôi với! Bỗng chốc, ba chữ trí mạng trên màn hình điện thoại khiến mắt tôi bị “giật” một cái, dường như “giật” lên cả khuôn mặt phảng phất bị tâm thần và cả đôi mắt sâu thẳm như miệng giếng cổ của cậu ta. Mùa động Bắc Kinh ngày 19 tháng… năm 2005, tôi nắm điện thoại đứng trên cầu Ngân Đính Hậu Hải, nhìn chằm chằm vào tin nhắn có thể được gửi tới từ Thượng Hải – Tô Thiên Bình, người may mắn còn sống sót sau khi từng tới Hoang thôn đang cầu cứu tôi từ khoảng cách 1380 kilômét. Lại một cơn gió phương bắc lạnh buốt từ mặt băng Hậu Hải thổi tới, tôi run rẩy lập cập ngửa mặt lên trời, chỉ thấy nửa vàng trăng treo lơ lửng cao cao trên không trung, bên tai dường như lại vang lên tiếng “Cứu tôi với”. “Thẫn thờ gì thế?” Em gái phụ trách biên tập nhẹ nhàng vỗ tôi một cái, tôi quay đầu lại, chầm chậm nói: “Xảy ra chuyện rồi”. Chưa kịp đợi cô ấy hiểu ra, tôi đã cho cô ấy xem màn hình điện thoại. Em gái phụ trách biên tập chay mày nói: “Tô Thiên Bình? Là sinh viên trong ‘Quán trọ Hoang thôn’? Anh thật là một gã hay ho đấy, sao nhân vật trong tiểu thuyết của anh lại toàn chạy hết ra tìm anh thế?” Tôi tiếp tục tựa vào lan can cầu Ngân Đính, những tiếng đàn ghita chốc chốc lại vọng lên từ những quán rượu cạnh bờ biển Hậu Hải khiến tim tôi càng trở nên loạn nhịp, đối diện với tiếng kêu cứu của Tô Thiên Bình, trả lời hay không trả lời đây? Nhưng đối với tôi mà nói, câu chuyện Hoang thôn đã qua đi rồi. Tôi vĩnh viễn không muốn quay trở lại nơi đó nữa, cũng vĩnh viễn không muốn cuốn vào đó nữa, giống như lời ấn định của tôi để lại trong phần mở đầu của “Quán trọ Hoang thôn”: Các bạn độc giả thân mến, bất luận bạn kích động thế nào sau khi đọc cuốn truyện này, nhưng hãy luôn ghi nhớ lời cảnh báo của tác giả - nhất định không được tới Hoang thôn. Nếu như bạn không nghe lời cảnh báo này, hậu quả xảy ra tác giả sẽ không chịu trách nhiệm. Đây là lần đầu tiên tôi lòng dạ sắt đá như vậy, nghĩ tới nghĩ lui mãi, tôi vẫn dằn lòng lắc đầu nói: “Không, đêm nay anh không muốn trả lời cậu ấy”. Em gái phụ trách biên tập lập tức nói: “Có khi cậu ấy sẽ trực tiếp gọi điện cho anh đấy”. Tôi cúi đầu trầm ngâm hồi lâu, sau đó tắt điện thoại: “Anh không nghe thấy”. “Sao anh lại như thế chứ?” “Đừng nói nữa”. Tôi cười đau khổ một tiếng, bước nhanh xuống cầu Ngân Đính. “Chúng ta rời khỏi đây thôi”. Tuy làm ra vẻ bất cần, nhưng trong lòng tôi lại vô cùng lo lắng. Tôi nắm chặt chiếc điện thoại đã tắt rời khỏi Hậu Hải, sau khi từ iệt em gái phụ trách biên tập, tôi liền vội vàng bắt tắc xi trở về khách sạn. Sáng mai là phải trở về Thượng Hải rồi, tôi thu dọn hành lý trong phòng khách, nhưng trong lòng thấp thỏm không yên, cuối cùng thì thực sự không thể chịu được nữa nên liền bật laptop lên để ghi lại chút gì đó. Nhưng đối diện với màn hình máy tính hồi lâu, tôi không gõ ra được lấy một chữ, đầu óc đã bị chiếm giữ bởi ba chữ mà Tô Thiên Bình nhắn tới. Tôi chỉ còn cách đứng lên đi lại một lúc, đột nhiên nhớ tới bức thư trong túi áo. Tôi lại lấy bức thư bí ẩn này ra, nhưng không lấy tấm thể trong đó ra nữa, chỉ nhẹ nhàng vuốt lên phía ngoài phong bì, đầu ngón tay cảm giác tê tê giống như sờ lên làn da trơn mịn của ai đó vậy. A, ngón tay tôi lập tức co lại, tiện tay vớ lấy chiếc điện thoại bên cạnh, màn hình điện thoại tối om biểu thị tắt máy. Tôi có thể tưởng tượng ra Tô Thiên Bình ở đầu sóng bên kia, có lẽ cậu ta đang nóng lòng chờ đợi tin nhắn lại, thậm chí đang liên tục gọi vào máy tôi nhưng chỉ toàn nghe thấy “Xin lỗi, thuê bao quý khách đang gọi hiện tắt máy” cũng nên. Rút cuộc vẫn là “trái tim yếu mềm”, tôi run rẩy bật điện thoại lên, nhưng không hề có hiển thị tin nhắn mới. Tôi do dự hồi lâu, cứ gọi vào số của Tô Thiên Bình vậy. Tôi nghe thấy điện thoại bên kia đổ chuông, nhưng Tô Thiên Bình nhất quyết không nghe máy. Tôi gọi lại liên tục vài lần nữa cho tới tận sau 12 giờ đêm, nhưng đều chỉ nghe thấy tiếng chuông không thấy tiếng người. Không được, sáng mai còn phải bắt kịp chuyến bay nữa, tôi đành phải quẳng điện thoại sang một bên đi ngủ. Đêm cuối cùng tại Bắc Kinh, tôi mơ thấy…

Thứ Ba, 14 tháng 8, 2012

Truyện: chiếm đoạt thể xác

chiếm đoạt thể xác lẫn linh hồn, đọc truyện hay 2013

Vùng này có nhiều đồn điền cafe và cao su do người Pháp trồng từ mấy chục năm trước. Nhiều người sống ở vùng này là công nhân cho các đồn điền của những người Pháp nàỵ Mẹ tôi lập gia đình và theo chồng về Nha Trang vì bố tôi làm việc ở đó. Tôi rất thích chạy nhảy dưới các tàng cây cao su được trồng thẳng tắp bát ngàn nàỵ Mùa hè cũng là mùa cafe nở hoa, mùi thơm dịu dàng của hoa cafe cũng làm tôi sảng khoái lắm. Nhìn những chùm bông trắng mọc dày kịt trên các cành cafe làm ta liên tưởng đến các cành hoa anh đào ở xứ Nhật!

Tôi cũng thường tới nhà cậu Ba tôi chơi và ngủ lại ở đó. Vợ chồng cậu Ba rất dễ dãi và vui vẻ, họ chưa có con nên quý tôi lắm. Có một điều lúc đầu làm tôi hơi sợ là có nhiều sự kiện lạ xảy ra trong nhà cậụ Như có lúc cả nhà đang chơi đánh cờ cá ngựa với nhau thì tự dưng các con cờ bị hất đổ cả xuống sàn nhà. Tôi sợ xanh cả mặt nhưng cậu tôi chỉ cười rồi nói "Vui nhỉ, làm ơn xếp lại cho tôi nhờ". Thế là các con cờ lại như có cánh bay trở lại chổ cũ trên bàn. Cậu tôi trấn an tôi và mọi người lại tiếp tục chơị Cũng có vài sự việc lạ khác xảy ra ở nhà cậu, nhưng tôi thấy mọi người tỉnh queo nên riết rồi tôi cũng coi những việc này là sự thường. Vợ cậu nói chuyện với mẹ tôi là cậu tuy là có Đạo (Thiên Chúa) nhưng hay giao du với những người Thượng làm trong cùng đồn điền và học cách giao tiếp với ma quỷ ở thế giới bên kia! Chỉ có vợ cậu và tôi tin là cậu có thể thông tin với thế giới bên kia vì chúng tôi đã chứng kiến những sự kiện lạ thường xảy ra trong nhà, còn những người khác thì chỉ mỉn cười chứ trong lòng họ không tin chuyện đó là có thật.

Một hôm Chủ Nhật mọi người rủ nhau đi chơi ở thác Trinh Nữ (sở dĩ thác này có tên là Trinh Nữ vì cứ mỗi năm đến dịp Noel và Tết Nguyên Đán, nam thanh nữ tú rủ nhau đến thác này chơi rất đông, và một điều đáng nói là hằng năm thường có một vài cô bị trượt chân và chết ở thác này, các cô này thường còn trẻ nên người ta đặt tên là thác Trinh Nữ). Khi mọi người đến thác thì cũng đã quá trưa nên cùng nhau trải bạt và dọn thức ăn ra để ăn trưạ Ở trên bờ sông có nhiều tảng đá rất to cao, trên có mọc các cây nhỏ và dây leo trông rất đẹp, có những tảng đá khổng lồ hợp với nhau thành một hang khá rộng mà người ta gọi là Hang Dơi, trong hang không khí ẩm thấp và hôi vì mùi dơi và phân của chúng. Nói chung thì cảnh vật rất hùng vĩ và đẹp. Thật ra thác Trinh Nữ nên được gọi là gềnh thì đúng hơn vì nó không đổ từ trên cao xuống như những thác ta thường thấy, nó chỉ là dòng nước xoáy xiết khi chảy ngang qua các tảng đá khổng lồ nằm chặn ngang qua giòng sông. Có rất nhiều tảng đá lớn nhỏ và người gan dạ có thể nhảy từ hòn này qua hòn nọ và băng qua sông. Trên các tảng đá này rêu mọc xanh dờn và rất trơn trợt. Cũng vì ham ra các tảng đá để nhìn ngắm dòng chảy mà đã có nhiều cô trợt chân té xuống giòng nước xiết và bị cuốn chìm kẹt trong các hốc đá mà chết.
Khi mọi người ăn xong và nằm nghỉ mát dưới các bóng cây, cậu tôi leo lên các tảng đá ở giữa giòng và kêu mọi người ra xem sự gan dạ của mình. Mặc cho ông bà Ngoại tôi và các người khác kêu réo cậu trở vào! Cậu vẫn nhảy thoăn thoắt từ tảng này qua tảng khác! Và rồi việc kinh hoàng đã xảy ra! Cậu tôi trượt chân té nhào xuống giòng nước đang cuồn cuộn chảy xiết trong những tiếng kêu thất thanh của mọi ngườị Không ai dám nhảy xuống để cứu vì có xuống cũng sẽ bị hút chìm theo giòng xoáy mà thôị Ông tôi vội chạy đi kêu cứu và gần một tiếng sau trở lại với mấy người thợ lặn cát (những người này làm nghề lặn lấy cát ở dưới lòng sông lên bán). Họ lặn xuống kiếm cả gần hai tiếng mới tìm thấy xác cậu bị vướng dưới một khe đá cách thác chừng 100 mét. Ngày đi chơi hóa ra ngày đại nạn cho gia đình. Mọi người đều ủ rủ chở xác cậu về nhà để lo việc an táng. Bà ngoại và mợ tôi thì đã ngất xỉu và được chở về nhà từ trước rồị

Ngày an táng đến và sự kiện lạ bắt đầu xảy ra ở nhà cậu Bạ Vợ cậu mặc đồ tang nhưng không biết nên chọn áo ngực màu gì, cái màu đen hay cái màu trắng, cuối cùng mợ chọn cái màu trắng mặc và rồi đi kiếm cái nhẩn đính hôn để đeọ Mợ không tìm thấy nó trong hộp nữ trang mà mợ đã cất giữ. Mợ chạy đến nhà ông bà ngoại và nói điều này, bà ngoại nói lấy cái nhẩn của bà đeo đỡ cũng được. Khi mợ mở cái hộp nữ trang của bà ngoại thì lạ thay cái nhẩn đính hôn của mợ nằm ở trong đó! Không ai biết làm sao cái nhẫn lại nằm trong đó được!

Trong khi cử hành nghi thức chôn cất ở nghĩa trang, tôi luôn cảm thấy như có ai đó nhìn tôi từ trên cành cây cao phía trên đầu tôị Tôi cứ ngước mắt lên nhìn để xem có ai núp trên đó không! Tuyệt nhiên không có ai trên đó cả, nhưng cái cảm giác đó vẫn bám lấy tôi suốt buổi lễ. Khi ra về mẹ hỏi tôi làm gì mà cứ nhìn lên cành cây trên đầu vậy, tôi nói là có ai núp nhìn tôi từ trên cành cây đó. Mẹ tôi chỉ buông một câu "Mẹ biết!"

Sau khi mọi người ăn cơm xong ở nhà ông bà ngoại, mợ Ba xin cáo từ ra về. Khi về tới cửa nhà, mợ giật thót mình vì cái áo ngực màu đen nằm chình ình trước ngưởng cửa như muốn nói là "cái này mới chính là cái cô nên mặc". Mợ mỉm cười và nghĩ đó là do cậu Ba làm ra! Mợ vào nhà lục các thư mà cậu mợ viết cho nhau trước khi cưới đem đi đốt hết vì sợ thấy chúng càng làm mợ đau lòng thêm.

Một hai tuần trôi qua, những sự việc nhỏ xảy ra như các thư mà cậu Ba viết cho mợ khi xưa lại xuất hiện chổ này chổ khác trong nhà, mặc dù những thư này mợ đã đốt đi từ hôm chôn cất cậu rồi! Cửa nhà được gài khóa lại nếu mợ quên khóa nó khi đi ngủ. Mợ cho đó là do cậu làm để muốn bảo vệ cho mợ thôị Rồi thì mợ bắt đầu đi chơi với bạn bè cho khuây khỏa, nhưng cũng từ đó sự kiện xảy ra trong nhà có khác biệt hơn, không còn những việc như có tính cách tình tứ hay chăm sóc bảo vệ nữa, mà thay vào đó là những đồ vật mợ cần thì bị mất một cách bí mật, cửa phòng mở ra đập vào giữa đêm khuya, chén dĩa bị rớt vỡ sổn sảng trong nhà bếp. Mợ không ngủ yên được trong đêm vì các tiếng động này, thêm vào đó mợ luôn nghe có tiếng chân bước quanh giường mợ trong đêm.

Bữa kia mợ đang trang điểm để đi ăn đầy tháng con của một người bạn thì phấn son đang ở trên bàn như bị ai hất bay cả xuống đất. Tức quá mợ thét lên "Có để chúng lại chổ cũ cho tôi không thì bảo!!" rồi mợ rời phòng. Khi quay trở vào thì các vật đã trở về chổ cũ. Rồi những sự việc bực mình như thế cứ xảy ra hàng ngày làm cho mợ từ bực mình đâm ra sợ hãi! Mợ nghĩ có thể hồn ma phá phách mợ không phải là câu Ba! Mợ đã đoán đúng điều này, hồn ma trong nhà không phải là cậu Ba...

Mợ Ba thật sự không tin là cái hồn ma trong nhà là cậu Ba, vì nếu là cậu thì làm thế nào mà cậu lại làm những điều có hại cho mợ được vì cậu rất thường yêu mợ mà! Mang ý nghĩ đó trong đầu, một hôm mợ quyết định tới gặp một thày phù thuỷ ở buôn ALê B. Khi mới bước vào nhà sàn của thày phù thuỷ, ông ta trợn mắt nói:
- Trời ơi! Cô đang trải qua một thời kỳ hải hùng trong đời cô! Chồng cô vừa chết trong vòng 3 tháng trở lại đây có đúng không?

Mợ Ba hoảng kinh vì mợ còn chưa nói cho ông ta biết mợ là ai nữa vậy mà ông ta có vẻ nói trúng phóc những gì đang xảy ra cho mợ! Mợ trấn tỉnh rồi làm bộ hỏi lại:

- Thày nói chuyện gì vậy
- Tôi thấy âm khí bao phủ đầy người cô đó! Nó quyện lẫn đầy sự thất vọng, buồn rầu, và sự ganh ghét! Cô có thể để tôi tới thăm nhà cô được không?

Mợ đồng ý để ông phù thuỷ tới thăm nhà, và mợ rồi trở về nhà mình. Khi mở cửa nhà thì một cảnh tượng xáo trộn chưa từng thấy ở trong nhà mợ! Bàn ghế bị lật đổ , bóng đèn bị đập vở, trên tường nhà đầy những vết cào xước! Mợ nghĩ ra ngay là con ma trong nhà không thích việc mợ đi gặp thày phù thuỷ! Nhưng là một người gan dạ, mợ không để việc này làm thay đổi điều mà mợ đã đồng ý cho thày phù thuỷ tới nhà!

Hôm sau ông phù thuỷ tới nhà và gỏ cửạ Một giọng đàn ông trầm trầm nói tiếng Pháp mời thày vào nhà. Thày vào trong nhà và cảm thấy có sự hiện diện lạnh lùng của một ai đó trong nhà! Thày ngồi đợi ở phòng khách và rồi mợ từ trong bếp bước rạ Mợ rất kinh ngạc vì thấy thày phù thuỷ đang ngồi trên ghế! Mợ hỏi:

- Thày đến hồi nào vậy Tôi đâu nghe tiếng gỏ cửa của thày đâủ Làm sao thày vào nhà được vậy
Thày nói cho mợ biết các điều đã xảy ra và mợ cho thày biết là khi cậu Ba còn sống thỉnh thoảng cậu cũng có giao lưu với hồn của một người Pháp, người Pháp này chết từ năm 1945 khi Việt Minh nổi dậy đánh chiếm chính quyền ở đâỵ Mợ còn cho biết thêm là cái hồn này nhiều lần yêu cầu cậu Ba cho nó được giao lưu với mợ Mợ thường cảm thấy có ai đó nhìn và mơn trớn mợ mỗi khi mợ tắm hay thay quần áo! Nhưng mợ cho thày biết là cái hồn này lâu nay đã rời nhà khi mợ vô tình đốt một gói giấy gì đó của cậu, vì từ đó mợ không còn cảm thấy bị có ai nhìn lén nữa! Tuy thế mợ cho là cái hồn ma này cũng tử tế chứ không dữ dằn gì cả!

Nghe xong câu chuyện, thày xin phép đi xem vòng vòng trong nhà, mợ gật đầụ Thày đi chậm chậm vòng vòng trong nhà chừng 10 phút rồi bổng đứng khựng lạị Thày quay lại phía mợ, mặt trắng bạch nói trong hơi thở:
- Cô phải rời nhà này càng sớm càng tốt!
- Có chuyện gì vậy thày Làm ơn cho tôi biết đỉ
- Không thể chần chờ được! Mau đến nhà tôi ngay đi rồi tôi sẽ nói cho cô nghe! Chúng ta cần phải rời căn nhà này gấp!

Khi cả hai về đến nhà thày phù thuỷ, thày mới nói:
- Cô đoán đúng! Cái hồn ma trong nhà không phải là chồng cô! Nó là một người Pháp, và cũng có thêm mấy hồn ma người Thượng khác, nhưng hồn ma Pháp là kẻ cầm đầụ Ngay cả khi chồng cô còn sống cái hồn này đã có ý thích cô rồi, cũng vì thế mà nó làm cho chồng cô bị trượt chân rớt xuống thác chết để độc quyền chiếm lấy cô đó! Nó phá cô vì nó ghen tuông đó mà!

Mợ Ba nhớ lại là thời gian đầu sau khi chồng chết thì con ma đối xử với mợ rất nhả nhặn, và có vẻ chăm sóc mợ lắm. Nhưng từ khi mợ bắt đầu đi chơi với bạn bè thì nó bắt đầu trở nên hung bạo! Có lẽ nó ghen với mợ thì phải! Mợ chợt nhớ ra điều gì vội hỏi:
- Lúc ở nhà tôi có gì ghê gớm xảy ra sao tôi thấy mặt thày trắng bạch ra vậỷ
- Tôi cảm thấy một luồng khí lạnh bao trùm lấy tôi và một giọng ồm ồm bằng tiếng Pháp bảo tôi là hãy để cô yên vì cô là của hắn ta, hắn còn nói là nếu tôi mà không nghe lời hắn thì hắn sẽ thanh toán tôi! Rồi hắn đuổi tôi ra khỏi nhà ngay lập tức đó! Nhưng tôi thấy tội nghiệp cô nên tôi mới khuyên cô rời nhà đó! Cô hãy nghe tôi đừng trở lại ngôi nhà đó nữa nhe chưa!!!

Mợ đồng ý và đêm đó mợ ngủ lại nhà của bà ngoạị Nhưng mợ cần một số quần áo và vật dụng cá nhân cho nên chiều tối đó mợ nhờ một người bạn trai tên Tài (làm cùng sở với mợ) chở mợ về nhà để thu nhặt các thứ cần dùng. Khi cả hai vào trong nhà thì đồ đạc cũng lại bị lật tung lên, ngã đổ ngổn ngang! Chú Tài thấy cảnh tưởng như vậy mới hỏi lý do, mợ nói sơ sơ về hoàn cảnh của mợ! Chú ta không tin và cho là chắc có kẻ nào đó thích phá phách mợ thôi! Mợ nói đó là sự thật và nếu chú ấy muốn nghe thì mợ sẽ kể cho chú ấy nghẹ Cả hai ngồi ở phòng khách và mợ bắt đầu kể đầu đuôi câu chuyện cho chú ấy nghẹ

Trong khi kể thì chú Tài thường ngắt quảng và đưa ra các câu hỏi và những nhận xét của mình. Khi mợ chấm dứt câu chuyện thì đồng hồ cũng đổ 9 giờ đêm. Mợ vội vàng vơ vài thứ cần thiết và nói với chú Tài mau rời khỏi nhà. Cả hai vừa định bước ra phía cửa thì nghe có tiếng đập nhè nhẹ Ở cửa, cả hai lắng nghe và tiếng đập mỗi lúc một mạnh hơn. Rồi tiếng đập như là có ai đang đấm vào cửa vậỵ Chú tài lấy hết can đảm bước tới phía cửa để mở! Khi chú ấy còn cách vài bước thì hai cánh cửa chợt như long bản lề bay về phía chú làm chú phải nhảy lùi lại để tránh! Nhưng cái cánh cửa không ngã xuống mà bay trở về vị trí cũ như không có gì xảy ra hết! Mặt mợ và chú Tài đều sợ dến trắng bạch cả ra, và chú ôm lấy hai tai rồi la lớn là phải rời khỏi nhà ngay lập tức.

Yêu và Chết - Thế Giới Bên Kia

Yêu và Chết - Thế Giới Bên Kia oan hồn kinh dị

Lơ xe Ngố cười tít mắt:
- Bởi vậy nãy giờ xe cứ lết lên dốc thấy tội nghiệp! Cả xe ai cũng đầy bầu nên xe nặng lết không nổi cũng phải!

Đập lên lưng lơ xe một cái, mụ Hai Nương bước xuống nhanh, vừa quay lại dặn tài xế:

- Thanh thủ nghỉ một lát rồi tới Pleiku ăn cơm cũng kịp.

Mụ đi thẳng vào quán định đi vệ sinh nhờ, nhưng chủ quán chỉ ra sau:

- Ở phía kia.

Mụ Nương đi ra xa hơn vài chục thước, thấy có căn nhà nhỏ ở một góc thì bước đại vào. Nhưng mụ ta đã phải khựng lại, bởi đó không phải là nhà vệ sinh, mà là một cái miếu âm hồn.

Còn chưa kịp lùi ra thì bỗng như có ai xô mạnh một cái, làm cho mụ ngã chúi nhủi về phía trong, vô tình quay gối ngay trước bát nhang đang nghi ngút khói.

Còn đang lúng túng, định đứng dậy thì chợt nghe có một giọng nói vừa đủ nghe:

- Sao chưa lạy!

Mụ ta mọp ngay đầu xuống đụng đất và cứ thế lạy liền ba lạy. Khi ngẩng lên, bỗng mụ run rẩy kêu lên:

- Cô... cô là...

Trước mắt mụ ta đang có một cô gái ngồi xếp bằng trên chỗ bệ thờ. Tuy tóc cô ta xoã gần kín khuôn mặt, nhưng mụ Nương vẫn nhận ra, mụ lặp lại:

- Cô... cô sao lại ở đây?

Một tràng cười vang lên:

- Mụ không ngờ người bị mụ xô xuống vực Đầu Voi bây giờ lại ở đây? Mụ tưởng đổi địa bàn hoạt động, không cho xe chạy qua quốc lộ 27 nữa là sẽ không gặp lại oan gia sao!

- Tôi... tôi...

- Mụ nín! Nếu còn léo nhéo nữa thì ta cắt lưỡi liền! Mụ trả lời ta, tại sao hôm đó mụ xô ta xuống vực sâu, còn người yêu của ta mụ lại chỉ đánh cho nhừ đòn rồi kéo lên xe chở đi?

- Dạ... dạ tôi không có ý... tôi chỉ...

Mấy cái tát liền khiến cho mụ ta xiểng liểng, suýt ngã chúi đầu tới trước.

Giọng mụ thất thần:

- Tôi chỉ...

- Phải nói thật ra thì còn mong toàn mạng, bằng không thì...

Mụ Hai Nương bình sinh hung ác, miệng lưỡi có gai có góc, vậy mà giờ đây mềm như bún:

- Dạ... chỉ vì tôi... giận cô đã cướp thằng Phong, nó vốn là người mà ba tôi nuôi nấng từ nhỏ. Phong là người mà tôi kỳ vọng sẽ nối nghiệp nhà tôi mà kinh doanh...

- Láo! Phong là người tốt, anh ấy có mang ơn nuôi dưỡng của mấy người, nhưng từ khi trưởng thành, anh ấy biết cái nghề buôn lậu hàng quốc cấm của mấy người là phạm pháp, nên đã có ý định ra khỏi nhà mấy lần. Anh ấy đã thề là sẽ không bao giờ dính tới chuyện làm ăn nguy hiểm đó nữa. Vậy mà mấy người đã nỡ nhẫn tâm hại anh ấy. Còn tôi, chỉ là người vô can, tại sao mấy người giết tôi?

- Chẳng qua tôi chỉ... tôi chỉ lỡ tay mà thôi. Vả lại...

- Vì sợ tôi tố cáo mấy người chứ gì! Mà có sợ thì cũng có thoát được đâu! Tôi nói cho mà biết, bắt đầu từ hôm nay hãy liệu mà bỏ nghề đi, nếu không sẽ hối không kịp!

Lời đó vừa dứt thì có một cụm khói xanh bốc lên từ chỗ cô gái ngồi rồi... sau đó mất dạng! Mụ Hai Nương sợ thất thần:

- Cô... cô Lan!

Mụ đã nhớ ra rồi, cô gái này là người yêu của Phong, đã bị chính mụ ta xô ngã xuống vực sâu hôm đó, vì nghĩ rằng cô ta là nguyên nhân khiến Phong mê muội tính bỏ nhà đi. Vậy mà sao cô ta lại ở đây?

Mụ chợt nhận ra, kêu thét lên:

- Ma! Bớ người ta!

Mụ tức tốc chạy ra khỏi miếu. Khi vào tới nhà, mụ còn chưa hoàn hồn, chỉ thều thào với chủ quán:

- Ma! Ma ngoài kia...

Bà chủ quán gắt lên:

- Ma cỏ gì ở đây!

Mụ Hai Nương chỉ ra cái miếu:

- Ngoài miếu có... có ma.

Tuy bực mình nhưng bà chủ quán cũng bước ra xem. Bà trở vào la lớn:

- Chị này vô duyên, đó là cái miếu thờ thổ địa của đất này từ bao đời nay, ma quỷ gì trong đó!

- Ma... tôi thấy ma.

Rồi mụ ta chạy một mạch ra xe, giục mấy đàn em:

- Đi nhanh lên.

Chẳng hiểu sao, mụ ta bảo tài xế quay đầu về hướng quốc lộ 27, thay vì chạy theo hướng Kontum, Pleiku.

° ° °



Chỉ một tuần sau. Tại chân đèo Đầu Voi, chỗ khúc cua nguy hiểm nhất, trước khi các xe leo đèo và đổ dốc, người qua lại thấy mọc lên một cái quán khá khang trang. Chủ quán trực tiếp đứng bán chính là... mụ Hai Nương!

Lúc đầu người qua lại ngạc nhiên và hơi ngỡ ngàng, nên hay ghé quán. Tuy nhiên chỉ mấy ngày sau thì lời đồn lan mạnh:

- Mụ Hai Nương mở quán miễn phí trong tháng đầu tiên, sau đó chỉ lấy bằng năm mươi phần trăm giá các quán khác!

Lời đồn đó quả không sai. Khi khách ghé quán tháng đầu, dẫu cho ăn uống thứ gì cũng được miễn phí.

Mụ Hai Nương tuyên bố:

- Trước đây tôi làm nhiều điều không phải, nay sám hối, muốn mọi người cảm thông, tha lỗi...

Quán mụ ta nhờ vậy ngày càng đông khách. Đặc biệt, những xe dừng lại nghỉ ngơi ở đó đều có chung nhận xét:

- Mở quán ngay chỗ này thật là thuận tiện cho cánh chạy xe chúng tôi. Bởi tới đây nghỉ ngơi trước khi lên đèo và xuống dốc, nhờ được tỉnh táo, nên sẽ không xảy ra tai nạn.

Lời nói đó rất đúng. Từ lúc có cái quán thì tai nạn giảm hẳn. Mà khu vực hoang vắng đó cũng trở nên đỡ lạnh lẽo hơn.

Đặc biệt hơn, quán đông khách hơn nữa khi về đêm. Điều nay chưa từng xảy ra, bởi xưa nay dân buôn ít khi qua đoạn đường này vào ban đêm, bởi đường không an toàn và thường có những vụ trấn lột. Vậy mà bây giờ hầu hết xe cộ lại thích đi đêm qua đây, được được ghé quán nghỉ ngơi, đôi khi còn được lai rai vài thứ đặc sản thú rừng do đầu bếp riêng của quán nấu.

Lâu dần tiếng tốt đồn xa, ai cũng thích ghé quán tên là Hai Nương đó...

Cho đến cuối năm, khi tình cờ đi ngang qua đó, Hà Ni và Phong, lúc ấy đã thành vợ chồng, họ ghé vào quán nghỉ chân. Vào chiều cuối năm, lại vào giờ xế nên quán vắng khách. Chỉ có đôi vợ chồng trẻ nên họ gọi thức uống được phục vụ rất nhanh.

Uống một ngụm cà phê, Hà Ni khen:

- Cà phê này không thua cà phê Tùng ở Đà Lạt!

Phong cũng xác nhận:

- Đúng là ngon. Phân nửa giống hương vị cà phê của Ban Mê Thuột.

Hai người đang muốn đi sau khi uống xong cà phê, nhưng bỗng người phục vụ quán bưng ta mấy dĩa thức ăn còn nghi ngút khói và nói:

- Chủ quán chúng tôi mời hai cô chú. Xin cô chú cứ dùng, quán chiêu đãi, không tính tiền.

Phong vội nói:

- Không phải là chuyện tiền nong, mà do chúng tôi phải vội đi.

Bỗng có một giọng trong trẻo cất lên từ phía trong:

- Nỡ từ chối lời mời của người bạn cũ sao?

Phong quay lại và giật mình khi thấy một cô gái rất đẹp bước ra:

- Ngọc Lan!

Hà Ni nghe chồng gọi tên Lan cũng sửng sốt:

- Đây là...

Cô gái chủ động lên tiếng:

- Lan mà cô từng gặp dưới vực sâu hôm đó, nhưng nay mới nhìn được dung nhan. Chào cô dâu mới xinh đẹp!

Phong chưa hết bàng hoàng thì từ trong nhà có một người nữa bước tiếp ra theo. Lần này Hà Ni lại kêu lên:

- Bà Dã Quỳ!

Phong đã nghe cha mình thuật lại mọi chuyện, nên lúc này anh như trong cơn mơ:

- Bà là... Mẹ!

Bà Dã Quỳ nén xúc động, đứng từ xa, kêu lên:

- Con!

Vừa khi ấy, chợt bên ngoài có một chiếc xe khách dừng lại, có khá nhiều người bước vào. Điều đó khiến cho cả Lan và bà Dã Quỳ vội rút vào trong mà chưa kịp nói hết lời, Phong định bước theo, nhưng chân anh như bị ai kéo lại, không bước được bước nào. Hà Ni nhạy cảm hơn, cô nói khẽ:

- Không gặp được họ đâu. Anh không nhớ họ đã chết rồi sao? Họ là... oan hồn!

Lúc ấy khách vào khá nhiều, những người phục vụ ra lo cho khách. Phong có hỏi nhưng họ đều đáp:

- Ở đây không có ai ngoài chúng tôi.

Họ thẫn thờ ngồi lại rất lâu. Thậm chí khi mấy lượt khách vào rồi ra mà bóng dáng của hai người kia vẫn chẳng thấy tái xuất hiện. Đến lúc mụ Hai Nương ra và nói:

- Những gì cô cậu nhìn thấy chỉ nên để bụng thôi. Rồi sau sẽ hiểu!

Phong muốn hỏi chuyện thêm với người đã từng cưu mang mình, nhưng mụ Nương hình như muốn tránh, cứ lăng xăng lo cho khách mà không hề ngồi lại với Phong.

Sau này nhiều người đồn rằng cái quán của mụ Hai Nương là... quán âm hồn.

Bởi có những đêm họ đi qua thấy quán vắng, không có ai phục vụ, nhưng hễ ghé vào gọi thức ăn thì lập tức được dọn lên mau lẹ.

Tuy là vậy, nhưng chẳng hiểu sao thiên hạ vẫn cứ ghé quán mà không hề sợ hãi. Hỏi thì có người bảo:

- Ma cỏ gì, miễn phục vụ tốt là được rồi!

Riêng Hà Ni và Phong thì tin chắc điều mình chứng kiến là thật. Họ bảo nhau:

- Có thể sự hối cải của mụ Hai Nương đã khiến cho những oan hồn ở đèo Đầu Voi cảm động và giúp mụ thành công khi mở quán...

Chính Phong và Hà Ni còn nhiều lần trở lại quán ấy, nhưng họ không hề gặp lại bà Dã Quỳ và Ngọc Lan...

Hết.

Truyện kinh dị: VÙNG ÂM SƠN (P.12 - Hết)

Những tiếng thùng thùng cộc cằn đâm xuyên vào bóng chiều đang nhá hơi sương xanh mờ ngang thân trẹ Mọi hoạt động tất bật của ban ngày vừa lòng lại, thì hồi trống thông báo về cái chết bỗng làm cho người ta sửng ra, rờn rợn cả chân tóc. Những tiếng nháo nhác hói nhau:

- Ai lại ấy thế? Sao lại báo lúc trời đi ngủ nàỷ Hỏi chuyền nhau mãi mới vỡ lẽ, thì ra cô thống Biệu vừa đi được chừng nửa tiếng. Mọi người lại càng chặc chặc đánh lưỡi thán phục khi nghe cái cách cô đi thật đúng là con thân cháu thánh. Chính lúc ở ngoài Đồng Chùa nổ ra cuộc tranh giành đất cát đến mức đôi bên vác gậy phang nhau chan chát như trâu húc, thì cô thống lúc đó đang nằm ở trong buồng ngang người đắp chiếu chăn đơn vì cô thấy khó ở từ lúc trưạ Nghe thằng Hữu cháu đích tôn phồng mồm trợn mắt kể lể về cuộc giao đấu cực kỳ ở ngoài đồng, cô lắc lắc mái đầu bỗng gáo nói rất tỉnh táo: Đấy, có đúng là ma sống nổi lên thì chẳng có bùa ngải nào trị nổi, phải không nàỏ Bùa ngải chỉ yểm được ma chết, chứ ma sống thì chịu! Rồi cô sai bà Thành là con dâu cả đi hái lá hương nhu và ngải cứu về nấu một nồi nước lớn để cô tắm rửa, thay đồ, rồi cô gọi ông Hiển tức anh ruột chủ nhiệm Lê Văn Vinh, là trưởng nam vào dặn dò. Ông Hiển vội vã giục con đi gọi chú Vinh tới Khi con cháu đã tề tựu đông đủ quanh giường, cô thống giương cặp mắt bạc mờ nhìn khắp lượt tỏ ý mãn nguyện. Cặp môi mỏng ăn trầu cắn chỉ khẽ mấp máy, nhưng đã không ra tiếng. Cô giơ tay lên bắt chuồn chuồn, rồi bỗng chới với hững hụt đổ xuống. Cô thoát tục, hiển thánh! Người cao niên nhất cuối cùng của làng chuyên sống bằng nghề yểm tà trị quỷ có tới non non một thế kỷ, nhưng bây giờ phải tự nhận là hết phép, là bất lực trước những con ma sống đã chính thức vĩnh biệt Giếng Chùa! Chim chết để lông, người chết để tiếng, cô thống hỡi! dầu cho cô được mát mẻ nơi chín suối, và xin cô hãy rộng lượng chín bỏ làm mười đừng quên phù hộ độ trì cho bà coi dân làng sinh sống ở cái thế đất có vượng nhưng nghịch này!

Mà nghịch thật Đào vừa về đến nhà đã thấy ông Hàm, Thủ, Cao và kỳ lạ không? Cả chị Bé đang ngồi quanh sa-lông giữa nhà với vẻ rất trang nghiêm. Tất cả như đang chờ đời Dàọ Thấy Đào về, Thủ ra hiệu bảo Đào vào nhà. Đào bỗng sợ sệt khi nhìn mặt ông chú không hiểu sao lại xanh tái như đang ốm. Thủ nói:

- Cái Đào về sau chưa biết chuyện, nghe chú nói lại đầỵ Bên cánh nhà ông Phúc đang bịa chuyện vu khống ta để muốn hạ nhục tất cả ai là đảng viên trong họ nhà ta vào ngay buổi họp ngày mai, ngày kiạ Mấy hôm nay cả họ nhà ấy hoạt động ráo riết để lật tạ Nó lợi dụng mọi sơ hở của anh em xa toàn bên ta để lôi kéo, kích động, để chia rẽ nội bộ. Vì thế mới có chuyện vừa rồi lão Địch mời bác Khừu vào quán bà Lợi đãi rượu với cổ cánh gà. Rồi đám đàn bà nhà ấy lân la làm lành với bà Cả, với vợ chồng cô Cành. Nó đang rấp tâm khơi dậy cái chết của bà Son và tìm mọi cách xúi bẩy người trong họ ta tố nhau để làm to chuyện lên. Quân này thâm hiểm mưu mô lắm chứ không vừa! Thế thì ta cũng phải có cách để bắt nó câm họng lại! Lúc này mỗi người mỗi việc, cất nhắc chân tay lên!

Giọng Thủ đã rin rít lại, mặt anh càng tái đi, khoé miệng giật giật. ấy là anh chưa muốn nói hết những tin tức mà Cao vừa cung cấp về lá thư của tên khốn kiếp nào gửi cho Tùng và ông Chỉnh kiạ Lúc chiều Thủ định hỏi Tùng về nội dung lá thư ấỵ Bây giờ Cao cho biết, Thủ đã thấy cuống. Phải tìm mọi cách dập ngay! Dập ngay!

Thủ rót nước uống, bàn tay khẽ run run. Mấy người đều cúi mặt xuống bối rốị Cả ông Hàm cũng ngồi thuỗn ra, thất sắc Không biết ông đang nghĩ về cái chết của người vợ đẹp, hay đang tính mưu tính kế để phạt tình địch.

Thủ nhìn quanh một lượt phân công:

- Giờ cái Đào nghe anh Cao nói một số việc cần làm ngay tối naỵ Hai đứa xuống dưới nhà nói chuyện để ở đây ta bàn việc khác.

Rồi Thủ quay sang chị Bé vẫn ngồi thu tay vào bọc mặt cúi gằm, đôi bàn chân vừa to vừa dày cứ di di trên nền gạch. Dạo này chị hoàn toàn tốt tươi trở lạị Người xổ ra béo lẳn, da dẻ nhẵn nhụi, tóc búi lên gọn gàng. Đây là lần đầu tiên chị giáp mặt với Thủ, người mà chị biết đang có quyền cao nhất xã nàỵ Mỗi lần Thủ sang đây, mới nhìn cái dáng cao ráo của anh từ xa, chị đã vội vàng lỉnh ngaỵ Thảng hoặc bắt buộc phải giáp mặt, thì chị nhìn cụp xuống, miệng lí nhí chào ông ạ!. Rồi vội vã kiếm việc đi làm ngaỵ Lúc nãy thấy Thủ, Cao đến, chị liền ra vườn tưới cây, chỉ lẳng lặng nhổ cỏ, té nước sẽ sàng ngay đầu hồi nhà, tai dỏng lên nghe ba người bàn những biện pháp cứu nguy trước một tình thế khẩn cáp. Vốn sẵn là người khôn ngoan thính nhạy, nên bây giờ chị đã biết được những nét lớn trong nội tình nhà ông Hàm. Bởi thế mặc dù nghe họ nói chủng chẳng đứt nối, nhưng chị vẫn biết được họ đang lo lắng cái gì, muốn làm cái gì, muốn làm cái gì. Cho nên thấy cả ba người đàn ông cùng ngồi thừ ra, thì chị rửa chân tay, rồi đi lại bồn chồn ngoài sân một lúc. Rồi chị tự khuyến khích mình cứ bạo lên! Cứ liệu lên! Như chị đã liều và đã thắng ông Hàm. Bây giờ thì cái cơ thể trường túc cứ rừng rực, cộng với cái máu liều rừng rực của chị đã buộc ông Hàm chắc lắm rồị Theo lệ cứ cách một hai đêm, về khuya khuya, hễ nghe tiếng lạch cạch mở chốt cửa ngách của nhà ngang, là chị đã choàng dậy, ăn mặc phong phanh đại khái, ra đứng sẵn ngay ở bực cửạ Khi cái dáng to ngang của ông Hàm vừa lách vào, chị đã ôm choàng lấy ông. Rồi với hai cánh tay săn chắc quen làm những việc thổ mộc, chị bế xốc ông đặt vào long sàng của chị nồng ấm mùi chăn gốị Chị vừa cọ bộ ngực với hai quả dưa căng mọng vào tảng ngực săn chắc của ông, vừa vuốt ve ông vừa run sẽ sẽ lẫn cả tiếng khóc rấm rức vì sung sướng. Tay chị nhanh :Dng trút bỏ xống áo trên người ông, nâng ông lên, gỉtíp đỡ ông làm phận sự. Ngược hẳn với khi chung đụng với bà Son, ở đây ông Hàm cứ nằm ườn người một cách cao giá và tỏ ra rất thích thú khi được chị nâng niu hướng dẫn kiểu một gã trai tơ lọt vào tay ả nạ dòng. Bây giờ chị ngại nhất, sợ nhất không phải là cô Đào sắc sảo nữa, bởi chị đã có chiếc lá chắn là người đẻ ra cô Đào kia! Người chị ngại nhất bây giờ là em ruột ông Hàm, con người danh giá của họ nhà nàỵThì đây là dịp may để người ta phải biết đến mình! Và chị đã rụt rè bước lên thềm, bối rối nhìn Thủ, khoanh tay nói cung kính:

- Dạ thưa ông, em muốn được giúp ông, muốn được giúp gia đình ông Hàm tai qua nạn khỏi ạ!

Thủ giật mình ngừng lên. Anh khẽ cau màỵ Quay sang ông Hàm, thấy ông trưởng họ bỗng đỏ mặt lúng túng thì Thủ nhợt nhớ ra tất cả. Anh dịu giọng nhưng mặt văn rất nghiêm:

- Chị vào đâỵ

Khi chị rón rén đi vào, vừa ngồi mớm xuống ghế, mắt vẫn nhìn xuống Thủ đã nói:

- Chị bảo chị giúp được chúng tôỉ thế chị định làm thế nàỏ

Chị Bé nói run rẩy:

- Dạ thưa ông, em đã học được phép hú hồn gọi vía của cô thống! Nếu muốn biết trắng đen, phải trái thế nào, thì sang tháng cúng 50 ngày bà nhà em sẽ gọi hồn bà về cho các ông hỏi chuyện! Những điều mù mờ khuất tất chỉ dấu được người sống, chứ không thể đánh lừa được người chết ạ! Vìngười sống còn vướng cái xác dày quá, thế mới có câu người trần mắt thịt! Chứ người chết chi còn hồn thanh nhẹ, đã hệt mọi bao bọc, nên lúc nào cũng thông sáng như đèn! Nhưng trước mắt với những người đang gây phiền cho các ông, em cũng sẽ có cách để họ sẽ chùn tay!

Nghe tới đấy, cả hai anh em ông Hàm, cả phó ban công an đều sống ngườị Chưa ai kịp nói gì, còn đang ngồi nghiêm trọng như tượng, thì chính lúc ấy Đào về. Câu chuyện tạm dừng. Cả bốn người ngầm đồng tình rằng không nên cho Đào biết những điều họ vừa bàn. Bây giờ Thủ lại hỏi tiếp:

- Thế chị định làm thế nàỏ

- Dạ thưa ông ngày mai là đám tang cô thống, đấy là cái rủi nhất gia đình cô thống. Nhưng với hai ông bên này lại là cái may, cái được đấy ạ! Ngày mai em xin phép hai ông cho em được đến viếng cô thống. Em sẽ ở đấy đến vãn đám. Chờ đến lúc gia đình đốt tuần hương cuối cùng đưa tiễn cô, em cũng sẽ dâng một thẻ hương tạ cô cho em ăn lộc thánh. Chính lúc ấy là thời khắc cô đã hoá vào em. Có vía cô che chở, em sẽ nói vài câu phán truyền có lợi cho hai ông! Em biết mình nói lúc thường thì chả ai thèm bỏ vào tai, nhưng lời lúc ấy là lời thánh, thánh đã cản thì người ta không dám coi nhờn đâu ạ!.

Mắt Thủ đã chùng xuống, cái nhìn dịu lạị Đúng là cái may đã bất ngờ rui vào tay anh rồi! ở đây người ta vẫn trọng luật âm lắm. Chính vì chẳng biết nó thế nào nên người ta hãị Thế thì tội gì ta lại không nắm lấy thứ vũ khí vô hình ấỵ Nhưng tất nhiên ta không thể tin vào một thứ, cứ phải âm dương kết hợp! Thủ nói giọng trầm trầm gần như giãi bày:

Nếu chị làm được như vậy thì tôi có lời mừng cho chị. Từ hôm chị đến giúp gia đình bên này, tôi thấy chị là người tháo vát, biết làm ăn, biết xoay xở. Còn gia đinh chúng tôi đang có một số khó khăn như chị đã biết, nếu chị đỡ được phần nào thì đó là điều tốt cho chúng tôi, mà cũng là tốt cho chị.

Chị Bé bây giờ mới ngước lên với bộ mặt rưng rưng đến sấp oà khóc. Bởi con người cao sang nhất của họ nhà này, người mà mới thấy bóng từ xa chị đã phải tránh mặt. Vậy mà bây giờ ông ấy đang khen chị, đang nói với chị những điều sâu kín trong gia đình họ mạc cho chị nghẹ Mặc dù ông ấy không nói tuột ra thì người khôn bao giờ chả ăn nói nữa chừng, nhưng như thế chả phải là lời hứa đó saỏ Rằng nếu chị san sẻ được cái gánh nặng này, rằng nếu chị xoay chuyền được tình thế, thì cánh cửa để chị bước vào làm thành viên của họ nhà này chắc chắn không phải chỉ là cánh cửa tối lù mù mà đêm đêm ông Hàm vẫn lẻn vào như một kẻ trộm là kia! Lạy trời lạy phật! Cửa phúc của người đã mở then trước mắt con rồi! Lộc thánh sắp rơi vào áo con! Chị Bé nhìn Thủ nói nghẹn ngào, sống mũi của chị đã cay như ăn hành sống:

- Dạ thưa ông, mong hai ông cứ yên tâm, em sẽ cố gắng hết sức để giải cơn hạn cho hai ông. Ngày mai khi đồng nhập, lời của em chỉ ám những người ngoài dòng họ. Còn nhưng người trong họ thì chờ đến hôm nào cúng 50 ngày bà nhà. Hôm ấy em sẽ nhắc mẹ con bà Cả đừng để ai xui dạỉ

Hai anh em ông Hàm đều ngồi im lặng. Im lặng là một cách đồng tình. Thủ đã đồng tình để cho người đàn bà mà mấy hôm trước anh vẫn gọi là con mẹ ăn màydùng cái chết của bà Son để giải hạn cho mình! ở nơi chín suối bà Son có thiêng chăng tá! Người đời vẫn nói Nghĩa tử là nghĩa tận, nhưng nào đã tận! Người sống kẻ chết còn nặng nợ lắm. Hạn là vì vậy nên bà Son cũng thể tất cho anh em ông Trình Bá phải mượn cái chết của bà vào việc âm trị dương cũng là cực chẳng đã. Mà cực thật, đường đường mang hùng khí cúng hổ thần, nhưng lần này hố lại núp sau bóng thỏ? Để cho đại an, nên hai anh em nhà Trịnh Bá phải núp sau hai cái bóng của đàn bà. Hai bóng nhưng là một sống một chết, một người lột ma! Mà ngay cái người đang sống cung phải nói tiếng ma, mượn đanh ma, tức là một người nửa sống nữa chết, vật và vật vờ. ấy vậy mà anh em ông Hàm phải nhờ vả đấy!

- Trước mắt chị hãy lo việc cho ngày mai, còn việc tháng sau rồi sẽ liệu - Thủ nhìn chị Bé nói khẽ khàng.

Chị Bé lại thưa:

- Dạ, ông dạy phải ạ.

Giữa lúc ở trong nhà chị Bé hứa giúp anh em ông Hàm qua cơn hạn với khí sắc bừng bừng quả quyết, thì ở ngoài đầu hồi nhà, khi nghe Cao nói:

- Chú Thủ và anh đã bàn rồi, tý nữa Đào nhắn thằng Tùng ra cái chỗ mà hai người vẫn hẹn hò nhau để người nhà ta gặp nói chuyện. Thôi đừng thanh minh giải thích gì, chú Thủ và anh đã biết cả rồi! Đây là việc hệ trọng, việc chính trị, chớ không phải chuyện tình yêu vớ vẩn. Cuộc nói chuyện này có cả Đào ở đó. Rồi nếu hai người muốn yêu nhau, muốn lấy nhau cũng không sao, Chú Thủ sẽ dàn xếp với bác Hàm để bác không cản trở. Nhưng muốn được như thế thì thằng Tùng phải chấp nhận một số điều kiện. Những điều kiện này là có lợi cho cả hai bên. Thôi cứ thế nhá, đừng nói gì với bác Hàm vộị Khi nhắn thằng Tùng cũng không được nói là có người của họ nhà ta đến gặp.

Vừa dứt lời, Cao quay vào nhà ngaỵ Mặt Đào vừa đỏ lựng lên, môi lại tái mét đị Rõ tội con bé Hoa, vừa nấu cơm dưới bếp, vừa lấm lét nhìn lên cứ như gà con thấy bóng quạ bóng diềụ ở đầu hồi nhà, chị Đào của nó vẫn ngồi thừ ra trông đến dại cả ngườị ấy là Đào đang hoảng lên khi nghĩ đi nhắn Tùng thế nào đấy! Mình vừa nói như chan tương đổ mẻ vào anh ta!
Giữa lúc Tùng đang được người ta sốt sắng đưa ra tính toán như vậy, thì bây giờ Tùng mới chếnh choáng về đến nhà. Không rượu không chè, nhưng đầu óc Tùng đang bàng hoàng ngơ ngẩn về cuộc họp đã bị phao tin, bị xuyên tạc, về ánh mắt bừng cháy và những lời hào hển của Minh. Bà Sang đang sảy thóc quèn quẹt ở góc sân, vừa thấy con trai về lên ngừng tay quay lạị Rõ ràng là bà đang rất sốt ruột chờ Tùng. Bà nói giận dỗi, đó là cách phản ứng của bà từ khi Tùng đã đủ tư cách làm chủ gia đình:

- Cả làng người ta đang bàn tán ầm lên đấy! Lúc nãy dượng Tính, dượng Địch gặp tôi cũng than oán về anh đấy! Anh với ông Chỉnh liều liệu bàn nhau mà có lời xin với người ta! Dù có sai có xiếc gì thì cũng là bậc cha, bậc chú. Nhiều việc còn dính đến cậu Phúc ngày cậu còn làm chủ nhiệm, chả nhẽ anh cũng coi cậu Phúc là người dưng nước lã? Ai làm cũng phải có đúng có sai, nắm tay làm sao được cả ngàỷ

Thế 1à lực lượng ngăn cản, chống đối đã xông vào tận nhà mình rồi! Tùng đã muốn nổi cáu, thì bà Sang lại tiếp:

- Ngày mai có đến mươi nhà họ mang cày, mang cuốc ra làm ở Dồng Chùa, anh đừng có bốp chộp rây vàọ Trên xã đã có ông Thủ, ông Sửu, ông Vinh, công an đã có anh Cao, giải quyết, thế nào là mấy ông ấy phải lọ Anh cứ tránh ra, không thì đầu chẳng phải lại phải tai!

Tùng giật thót ngườị Thì ra có một cuộc giành lại đất thừa tục đất hương hỏa mang tầm cỡ bạo động của dân chúng đã được chuẩn bị chín muồi lắm rồi! Tùng định nói con sẽ báo ngay cho ông Thủ, ông Xuân Tươi và tổ chức lực lượng dân quân để sẵn sàng giải tỏa! Nhưng như vậy nhất định bà Sang sẽ ngăn con trai bằng cách khóc ầm lên, đó là thứ vũ khí cuối cùng của bà. Đã hai dân Tùng phải đầu hàng vô điều kiện khi bà dùng thứ vũ khí đó.

Tùng lẳng lặng ra giếng tắm. Dưới nhà bếp, Mai vừa nấu cơm, vừa ríu ran thông báo một chuyện lạ: ấy là cái nhà chị Bé làm thuê ở nhà ông Hàm, tuần trước hai chị em Đào Hoà và cả ông Thủ định đuổi chị ta đi, nhưng chị ấy cứ lì ở lạị Vừa lúc chiều tối khi nghe trống báo tang cô thống Biệu chết, thị ta liền tuyên bố ráo hoảnh là cô thống đã bàn giao công tác cho chị tạ Bây giờ phần âm ở cả vùng này là do chị ta trụ trì, tức là tương đương với ông Sửu, chủ tịch đấy! Bà Lài, mẹ ưởng, là chị em thúc bá với ông Hàm, vốn cũng là người đa nghi nhiễu sự, ra điều không tin mới hỏi vặn vẹo, thế là chị Bé vào nhà ngang xách chiếc bị cói lúc nào cáng đặt trên đầu giường rạ Trong ấy cất một chiếc bát hương to đùng bằng cái nồi bạ Đó là chiếc bát hương có xung quanh vẽ những hình long ly quy phượng còn đẹp cha bố hơn cả ảnh màu! chị ấy bảo thần sắc của các ngài ngự cả trong đó. Cần gì đốt hương lên khấn, thế là các ngài sẽ phù trợ. Bây giờ anh em nhà ông Hàm kiềng chị Bé ra mặt. Ai hẳn hoi tử tế với chị ấy, thì chị ấy là người, còn nếu Sưng sỉa lên định chèn ép thì chị ấy biến thành mạ Giờ có thống Biệu chết thì ai còn trị nổi mả Chả biết ma thật hay ma giả. Người ta đang tán là có khi con ma này đang phải lòng ông chủ nhà! Hí hí!

- Kệ người ta, đậy mồm đậy miệng lại - Bà Sang đe con gáị

Thằng Tú phụ họa với Mai:

- Thế là chị ấy đã nắm vững phương châm một tấc không đi, một ly không rời và dùng chiến thuật đánh đổ từng bước, đánh lui từng bộ phận, tiến tới làm chủ hoàn toàn tình thế của chiến tranh nhân dân đấy!

Chị em Mai cười rúc rích. Câu chuyện Mai vừa kể là diễn ra trước khi Thủ và Cao đến nhà ông Hàm. Khi anh em, chú cháu Thủ Cao, Cao Thủ đến để bàn công việc tối nay và ngày mai là chuyện tuyệt mật không thể có mặt bà Lài, mẹ ưởng, tính nết hay lanh chanh bép xép ngồi đấy được.

Tùng vừa dội nước, vừa nghe Mai kể chuyện cũng phải cười thầm, nhưng trong lòng thấy nhói một cái như chính mình cũng bị động chạm. Thật đúng là tai vách mạch rừng. Từ chuyện xó nhà góc bếp của dân, đến những vấn đề ai là bí thư Xuân Tươi vẫn gọi là rất tầm cỡ của chính quyền, của Đảng, chỉ nhoáng một cái là đã loang ra khắp làng. Thế này là Dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra đây!

Mai vừa dọn cơm ra hiên gạch, thì bỗng con vện sủa hộc ngoài ngõ. Cô chạy ra, rồi lại quỳnh uỵch vào ngaỵ Đến gần bên Tùng đang thắp cây đèn ba dây, Mai nói nhỏ:

- Cái Minh nó đang chờ anh ngoài cổng?

Thấy Tùng chợt biến sắc mặt, Mai quay đi, khe tủm tỉm tinh quáị Ông cà tẩm này trông lởm chởm thế mà nhiều cô xin chết gớm nhẩy! Bởi Mai vừa thấy Minh có cái gì khác lắm. Mặc dù vừa thấy Mai chạy ra, Minh vẫn nói giọng ba toác: Bảo lão anh mày ra đây nhận lệnh, mau!. Nhưng mặt Minh lại bối rối thế nàọ Đôi má bánh đúc chợt đỏ ửng lên. Được, con tồ này rồi tao sẽ hỏi tội sau! - Mai thầm nghĩ. Mai và Minh cùng lớp tuổị

Tùng mặc vội quần áo dài, đi ra ngõ. Trăng giữa tháng sáng rời rợi, nhưng lối ngõ vẫn tối thẫm vì những ngọn tre ngả rợp. Tùng đang nhìn nghiêng ngó, thì tiếng Minh nho nhỏ mãi phía trước, dưới lùm cây muồng muồng:

- Anh Tùng, em đâỵ

Minh đứng, tay vò vò chiếc lá. Cô mặc chiếc áo phông ngắn tay màu nõn chuốị Dưới ánh trăng lổ đố chiếu qua kẽ lá Tùng vẫn nhìn rõ cặp mắt một mí đang sáng lấp lánh.

- Em mang lệnh mới đến cho anh đây - Minh khẽ cười - Nhận lệnh rồi phấn khởi mà giữ vững vị trí chứ không được đào ngũ đâu nhá? ở đây không thiếu những người tốt, những người vững vàng. Nhưng anh phải biết tin, biết quý người ta, thì người ta mới ủng hộ, mới bảo vệ anh. Em báo chỗ anh biết, lúc nãy em thấy ông Tính dượng anh với ông Thủ đứng nói chuyện rì rầm ở cạnh Đầm Cò kia kìạ Trông nghi lắm! Hai ông này vốn có khoái nhau đâu!

Tùng bắn người lên, nói xen vào:

- Họ định liên minh ma quỷ gì đây! Nhưng anh vẫn chưa hiểu Minh định nói gì.

Minh càng cao giọng lên:

- Anh thì chỉ hiểu có mình anh thôi! Tự cho minh là hơn người mà? Thế cho nên khi bị phản đối mới định bỏ của chạy lấy người! Nhưng chạy đâu cho thoát, cuối cùng rồi vẫn quay về đâỵ Thì lúc ấy mọi người nhìn anh thế nàỏ Hay lại phới nữả Lại tút nữả

Tùng cào cào mái tóc ướt, cười gượng gạo nên miệng cứ cứng lạị

- Minh nói cụ thế nữa đi, anh chưa hiểụ

Minh bước lại gần. Cái dáng to béo mập tròn và khuôn ngực vun đầy đội kênh cả áo của cô che tối một vạt trăng. Đã thấy cả mùi xà phòng ca-may từ người cô tỏa ra ấm sực, ngầy ngậỵ Con gái nông thôn bây giờ cũng rất sành dùng đồ ngoại, chứ không phải chỉ có lá chanh, lá bưởị

- Thì bây giờ anh hiểu đây! Cái Đào, anh hiểu chưả Hay cũng lại bảo không hiểu cái Đào là ai! Cái Đào nó yêu cầu anh hãy ở nhà! Hiểu chưả ở nhà, không phải trốn đi lao động ở xứ sở nào hết. Và tí nữa nó chờ anh ở chỗ hai người vẫn hẹn gặp nhau! Anh hiểu chưa! Cái Đào nó đang đau khổ. Từ tối đến giờ nó với thầy nó lại nói nhau về chuyện chị Bé. Nhà nó đang nhiều chuyện buồn lắm. Ông Hàm đang dở tính dở nết mất rồị Người ta đang đồn là ông ấy giữ nhà chị Bé ở lại để thay bà Son. Thế có phải hồn vía vứt xuống cống xuống rãnh không! Cái Đào mấy hôm nay cứ khóc luôn. Vừa lúc nãy sang gọi em đã thấy mắt đỏ mọng lên. Đấy, thù oán nhau cho lắm vào để mà tan cửa nát nhà! Bố con hục hặc nhòm ngó nhau, rách việc quá! Anh ở lại để nó có chỗ dựạ Còn em, anh hãy quên những gì em đã nói với anh. Quên đi, hiểu chưả

Minh bước lại gần nữạ Bất ngờ cô đưa tay bấu vào bả vai Tùng, cặp mắt một mí càng nhóng nhánh ngời lên dưới trăng:

- Thế là em đã hoàn thành nhiệm vụ của người liên lạc. Anh mừng nhá, sướng nhá! Tý nữa thì mất con cá to! Từ giờ trở đi có chuyện gì không được giấu em, nhớ chưả Minh lại véo mạnh vào vai Tùng, rồi bàn tay cô rời ra, buông thõng, hẫng hụt như thừạ Tùng lóng ngóng nắm lấy bàn tay với những ngón múp míp đang nóng râm ran, anh nói nho nhỏ trong tiếng thở hào hển:

- Anh xin lỗi Minh. Em tốt quá, tốt quá. Anh sẽ không đi đâu nữạ Từ giờ có chuyện gì anh sẽ hỏi ý kiến em.

Hai người nhìn nhau thật gần, bối rốị Đôi mắt Minh lại bạo dạn nhìn hút vào Tùng không chớp, long lanh như cười như khóc. Cái vẻ hoác toác táo tợn bề ngoài chợt biến mất. Cô thôn nữ đang thì căng ứ sức lực chỉ còn cuồn cuộn lên những bản năng trước người con trai mà cô đã thầm ao ước. Toàn thân cô bỗng run lên lẩy bẩy và, đột ngột cô gái đổ ập vào ngực Tùng. Khuôn mặt tròn vành vạnh của cô vùi vào cổ anh. Tiếng ngàn ngạt thổn thức:

- Anh đã có lỗi gì với em mà xin. Có lỗi với nhau đã tốt! Tùng anh ơi! Anh ơi! ...

Vừa gọi chới với những câu vô nghĩa, Minh vừa nép sát vào Tùng. Đôi vai nở nang tròn đây cứ rung lên. Mùi thơm của áo quần, mùi của da thịt đầu tóc, mùi đàn bà con gái phả lên đã hun đốt người Tùng, xua tan những ngỡ ngàng sợ sệt. Người con traị người đàn ông trong Tùng thức dậỵ Anh ôm xiết ngang người Minh, chải chải những ngón tay đang nóng căng của mình vào mái tóc bồng xốp của Minh. Một mảng gáy trắng như ngó sen, mát đẫm ánh trăng kbẽ run lên dưới bàn tay mơn man của Tùng. Tùng cúi xuống, vừa áp môi vào đấy thì Minh quay ngẩng lên, mắt lim dim đờ dại nhìn sát vào mặt Tùng. Môi tìm môi, rồi cùng háo hức dinh chặt vào nhau đến nghịt hơi, đến tắt thở!

Tùng càng ôm chặt toàn thân người con gái đã lả đi, rồi dìu cô vào bãi cỏ phía sau bụi muồng muồng. Minh hỏi rên rẩm:

- Đi đâủ Đi dâủ

Nhưng đôi chân cô lại riu ríu bước theo Tùng không hề phản đốị Vừa ngồi xuống bãi cỏ, bốn cánh tay đã quấn chặt vào người nhaụ Tùng kéo Minh nằm ngả xuống. Bàn tay anh vội vã lần tìm khao khát. Đến khi cả cái khối măng tơ mũm mĩm đã được bóc ra, những đường nét căng mẩy nuột nà hiển hiện không còn một chút che đậy, tất cả hôi hổi lên dưới trăng, thì Minh bỗng rùng mình choàng tỉnh. Cô hốt hoảng ngồi bật dậy, nói giọng khê nặc đi:

- Đừng anh, em sợ.

Rồi không để cho Tùng phân bua, cô lại ngã ngồi vào lòng Tùng, vùi mặt vào ngực anh, chân tay duỗi dài, mệt mỏi đến lười biếng, giọng thổn thức:

- Sửa quần áo lại cho em. Thế là đủ rồị Thế là em đã được yêu anh rồị Chúng mình biết nhau rồị Em không thể tranh giành với Đào, vì nó đến trước em. Em quí cả hai ngườị Thôi đứng dậy anh.

Minh kéo Tùng đứng dậỵ Hai đôi môi khô khát lại dán vào nhau, cùng vồ vập thèm muốn. Nước mắt Minh bỗng chảy ra lã chã, ướt nhòe trên đôi má tròn căng. Cô kéo tay Tùng lại đang háo hức luồn vào cố áo mình, nói dấp dính:

- Thôi anh, để em về. kẻo em không giữ được mình nữạ Đây là lần đầu và cũng là lần cuốị Không bao giờ được nhắc lại nghe chưả Anh đi gặp Đào đị

Minh ôm lấy cổ Tùng, dụi đầu chùi nước mắt vào ngực áo anh? rồi vùng ra chạy lao đị Miệng kêu ư ư, người cứ như sắp đổ về phía trước.

Tùng đứng thuôn ra một lúc mới tan hết cơn mê mẩn! Một con chim lợn bỗng choạc, choạc, choạc kêu một tràng dài như xé lụa, bay vút ngang qua xóm. Chim lợn cũng thuộc họ nhà cú cũng là phái viên của tử thần, đánh hơi người chết rất tàị Nhưng cú lợn háu đói, nên đi ăn sớm hơn cú mèọ Phía nhà cô thống Biểu có tiếng gì thình thình như tiếng đóng ván. Mơ hồ như có cả tiếng khóc. Không còn thiết quay về ăn uống, người đang chộn rộn bàng hoàng, Tùng bước ra khỏi rặng trẹ Xóm làng mung lung tắm đẫm trong trăng sương. Thấp thoáng phía trước có mấy bóng người lờ mờ, rồi khuất nhanh vào một bụi duỗị Ai như dượng Địch? Ông ấy đi đâủ Trong đó là nhà ông Xuân Tươi, rồi tiếp đến nhà ưởng, anh chàng thiên lôị Đã mấy lần ưởng nài Tùng dạy cho vài miếng ka-ra-te để làm vốn, nhưng Tùng tìm cớ lảng. Dượng Địch vào khu ấy có việc gì? Liên minh bàn bạc gì? Hôm trước ông bảo Tùng đóng vai sứ giả đi gặp vợ chồng cô Cành. Tùng chưa nhận, ông đã mặt nặng mặt nhẹ. Nghe nói mấy hôm nay ông có vẻ tất bật lắm. Rồi ông Thủ, ông Tính gặp nhau ở Đầm Cò thật saỏ Tùng lại nhớ những ánh mắt của ba ông thường vụ nhìn mình lúc chiều ở Đồng Chùa, cứ sáng lạnh những tia hờn giận. Chợt một bóng người cao lòng không từ một ngách nhỏ chui chúi đi ra, tí nữa thì đâm bổ vào Tùng.

- A chú Tùng đấy à? Tớ lại cứ tưởng ả nào!

Đôi bên cùng lùi lại nhìn sững vào nhaụ Anh say rượu gặp anh say tình! Cả hai cùng ngơ ngơ như thiếu hồn víạ Tùng dụi mắt, hắng giọng:

- Anh Tám đánh chén ở đâu về đấỷ Nhà ông Thó hử?

Tám lé cười khè khè như ếch kêu trong nhà, phun hơi rượu ra nồng nã:

- ơ, mới làm chầu tiết canh vịt ở nhà Thó. Thì cánh áo ngắn không mời nhau còn mong thằng chó nào nó rước mình!

Tám ghé sát vào mặt Tùng, cặp mắt hiếng lệch như xe sang vành cứ đảo lên trợn trạo:

- Nhưng chỉ sang tháng chờ ngày tốt là tớ khánh thành nhà. Đảm bảo với chú là dinh cơ của mấy anh vẫn được tiếng là máu mặt trong làng chỉ là cái đinh rỉ! Rồi tớ phải lấy lại ruộng ở Đồng Chùạ Cái thửa vành khăn của ông nội tớ từ ngày xưa ấy, mai là phải cày tắp lự chứ không các cha lại sàng sê cho nhau là mất trắng. Tớ đã chuẩn bị lực lượng rồị Mẹ kiếp, thằng nào muốn chơi thì ban ngày ban mặt giỏi ra đây, chứ đừng làm cái kiểu giấu mặt như con cu-li đêm hôm trước. Mấy thằng choi con cứ đợi đấy, ông sẽ làm lông!

Tám bước đi, hùng dũng như Đông-ki-sốt sắp sửa giao đấu với cối xay gió.! Miệng vẫn nói lầu bầụ Đấy là rượu nói chứ đâu phải Tám nói! Thấp thoáng vẫn có những bóng người ra vào các ngõ, các ngách. Những bước chân lạo xạo trên rơm rạ. Tiếng thì thào kín kín hở hở. Đúng, đêm nay làng xóm có cái gì bồn chôn thắc thỏm lắm. Sống chết, buồn vui, thiện ác ... cứ đan vào nhaụ Mỗi người có một kế hoạch riêng, gấp rút chuẩn bị, âm thầm mà sôi sục.

Lúc này ở nhà ông Hàm im phăngphắc, cứ tưởng tất cả đã ngủ saỵ Kỳ thực chỉ có cái Hoa là đang ngủ thiếp đi vì thần kinh của nó quá căng thẳng suốt cả buổi tốị Đào đã đi công việc từ lúc nãy theo chỉ thị của Thủ. Thấy cô chủ đi vắng đã được một lúc lâu, mà ông Hàm vẫn chưa vẫn xuống? chị Bé sốt ruột liền rón rén đi lên, gọi lào thào từ ngoài hiên: Ông ơi! Xuống em hỏi, chị vẫn mở rộng hỏi cánh cửa giữa, chứ không phải mở lén cửa ngách nữạ Khi ông Hàm vừa gù gù bước vào chị đã đổ vào người ông mà khóc thật là mãn nguyện, thật là hả hê. Ông ngạc nhiên hỏi: Sao thế? Chị càng ôm chặt lấy ông mà rên lên nũng nịu: Em mừng vì ông đã tin em, ông Thủ đã tin em. Em sẽ hết lòng. Nhưng bây giờ ông phải bày thêm cho em mai nên làm thế nào để họ phải tin, phải sợ. Lúc nãy em nói cứng với ông Thủ là vì em biết ông có nhiều mẹo! Ông bày mẹọ em đi làm, thì ta chẳng còn sợ ai nữa!. Ông Hàm lại ừm trong cổ, nói ậm è; Lý lặng để ta tính! Và trong lúc ông tính, thì chị Bé lại dìu ông về long sàng với những nhịp thở hôi hổị

Còn Tùng, anh chàng tình si bây giờ môi hoàn toàn trở lại tỉnh táọ Tùng nhẩm tính mai phải báo sớm cho ông Thủ, ông Xuân Tươi biết kế hoạch chiếm đất của dân chúng. Dù chi bộ có phân tâm đến mấy, thì những đảng viên vẫn phải có trách nhiệm không được để cho dân chúng manh động. Tùng vẫn bước hăm hở. Cánh đồng quen thuộc đã hiện ra trước mắt. Vòm cây nhãn mờ mờ như một dấu chấm phía xạ Lòng Tùng lại cồn lên vừa rạo rực, vừa thấy hối hận về những phút mê cuồng cùng Minh vừa quạ Tùng vuốt lại quần áo bỗng sững cả tay khi hai cánh mũi còn cảm mùi xà phòng thơm, mùi tóc, mùi da thịt của Minh vẫn lan tỏa khắp người mình! Đào có nhận ra không? Vốn là người nồng nhiệt và ích kỷ trong chuyện tình cảm, nếu biết mình đã ấy với Minh, thì không biết những gì sẽ xảy rả ờ, nhưng sao Đào lại chuyển biến nhanh thế nhỉ? Chả nhẽ chỉ vì mình định bỏ đi kiếm ăn ở đất khách quê người mà có sự tác động ghê gớm thế? Phụ nữ thật lạ lùng, vừa cạn cợt như đĩa đèn, lại vừa thăm thẳm như đêm tối! Để cho cánh đàn ông khi thì được tọa hưởng ngồi mát ăn bát vàng, khi thì bị cuốn chìm vào đến không còn biết đâu cuối ở đâu mà ra! Nhưng thôi, dầu sao đời ta nỗi nào! Cứ tưởng không bao giờ mình đến được chỗ hẹn hò say mê này nữạ Cứ tưởng mình đã hoàn toàn mất Đào, thì đột ngột ....

Đã hết con đường sỏi lớn, Tùng dừng lại nhìn trước nhìn sau, rồi sẽ xuống cái hùm ở đầu bờ ruộng để bước lên con đường mương bồi hồi những kỷ niệm của mình. Thì bất ngờ một bóng người từ đống rạ xếp trên bờ mương phía trước nhảy choàng ra và tức khắc một quầng gì đen thui nháng lên, phóng thẳng vào mặt Tùng! Vừa kêu á một tiếng. Tùng vừa vội đưa tay lên che mắt đã bị cả một bọng tro hắt tối xầm. Tiếp liền một bọng nữa trùm kín người Tùng. Rồi cùng lúc ba người đội tung đống rạ lên, nhảy xổ vàọ Những quả đấm bố xuống tới tấp. Một tiếng gằn trong cố họng:

- Nhớ là những cuộc họp sau phải câm mồm đi!

- A ...

Tùng rít lên, rồi vung tay đấm ra cả bốn xung quanh. Nhưng vô hiệu, vì mất mở không được, cay xè, bỏng rát. Tùng chỉ lờ mờ thấy những bóng người loang loáng, nháo nhào, chạy loằng ngoằng quanh minh. Tùng húc đầu vào cái bóng đen thui phía trước định mở đường máu, thì một nắm tro nữa lại hắt vào mặt anh? Thình lình có tiếng kêu the thé trên đường sỏi, khiến mấy cái bóng đen đang đan dệt quanh người Tùng bỗng hú lên một tiếng như hiệu lệnh của lũ người ăn lông ở lỗ, rồi chúng nhảy nhoáng nhoáng qua mương nước, chạy vun vút xuôi cánh đồng.

Tất cả sự việc diễn ra chỉ chừng ba phút.

Tùng ngồi bệt xuống, lấy tay áo lau mặt. Tròng mất bị ngấm tro càng cay xót, bỏng như táp lửạ Nước mắt chảy ra giàn giụạ Nỗi uất ức đã đến độ căm giận khiến Tùng bật khóc. Anh không thể nào nghĩ được mình lại bị làm nhục ghê gớm thế nàỵ Tiếng Minh gọi lạc giọng trên đường:

- Anh Tùng, anh Tùng đâu rồỉ Trời đất ơi, mau lên Đàọ

Vừa chạy bậm bạch, Minh vừa gọi rối rít. Rồi cô nhào người đến chỗ Tùng đang ngồi, hai tay áo vẫn lau lau dụi dụi, Minh ôm lấy vai Tùng, nâng mặt anh lên và cô càng kêu rú. Cả mặt mũi, đầu tóc, áo quần Tùng bết đặc tro bếp, khiến người anh là một khối đen thui, râm lã như vừa chui ở tố quỷ ra! Nhưng Minh càng kinh hãi khi Tùng gạt tay cô ra, đứng vùng dậy nói dằn giọng:

- Thì ra các cô lừa tôi!

Rồi Tùng thập thòm bước đi, tay vẫn đưa lên dụi mắt, như không còn gì để nói với người con gái mà vừa lúc nãy mình đã đòi hỏi cuồng nhiệt nữạ Minh lặng đi như chết đứng. Đào vừa hào hển chạy tới, nghe vậy, liền ngồi thụp xuống khóc nức lên. Minh bỗng dậm chân, vừa khóe vừa gọị:

- Anh Tùng, anh điên rồi à? Đứng lại đã.

Tùng vừa dừng lại, thì Minh đã nhào tới vồ lấy vai anh mà lắc, nói như nước xối:

- Anh bảo ai lừa anh? Em với cái Đào mà lừa anh à? Thế thì anh giết chúng em đi! Quân lừa lọc còn để sống làm gì cho bẩn mắt, giết đi ối giời đất ơi, làm phúc phải tội!

Minh khóc, tiếng vỡ ra, cùng uất ức nghẹn ngàọ Tùng đứng trơ rạ Anh rất sợ tiếng khóc của phụ nữ. Minh vừa khóc tức tưởi, vừa nói đứt quãng.

Từ chỗ Tùng, cô vừa đi châng lâng về đến cổng, đã thấy Đào đứng bên bụi găng chờ. Minh bỗng chột dạ, tưởng Đào bám gót mình theo dõi, đã biết hết chuyện mình với Tùng. Nhưng Đào không để ý vẻ ngường ngượng của bạn, mà sốt ruột nói ngay những nghi vấn đang khiến cô hoảng hốt. ấy là theo kế hoạch lúc đầu người ta bắt Đào nhắn Tùng ra chỗ hẹn, để có người đến gặp Tùng nói chuyện theo cách mặc cả trước mặt Đào cho Tùng dễ mềm lòng. Nhưng bây giờ người ta lại bảo Đào không được ra pữa, để người ta nói chuyện riêng với Tùng thôị Vì thằng này rắn đâu, nên phải nói theo cách cứng rắn! Sau đây nếu nghe thấy có chuyện gì xảy ra, có ai đến hỏi Đào để điều tra, thì Đào phải chối là không biết gì cả, không hẹn hò với aị Nghe vậy Đào hoảng quá, thấy chính mình đã sắp gây tội ác đến nơi! Cô lại chạy vội đi tìm Minh. Thì năm kia đã có chuyện tương tự vậy rồị Ông Phan cũng là đảng viên hắn hoi, đã tố cáo đội trưởng, đội phó và thủ kho ở đội 1 ăn gian trong việc cân lợn gia công. Có mỗi một con, mà họ cân đi cân lại giao nộp đến ba lần. Buổi tối ông Phan nghe có tiếng gọi rất vui vẻ ở ngoàị cổng, vừa chạy ra thì ba gã đàn ông nai nịt như ba toong đao phủ, ngang nhiên không cần giấu mặt, ra hiệu cho ông Phan không được kêu, rồi kèm ông ra giữa Đồng Chùa để dạy cho ông biết thế nào là lễ độ. Vậy mà rồi chịụ Cứ như chuyện đùa, không ai phân xử, vì không có chứng cớ, không bắt tận tay, không day tận trán, trên người lại không có thương tích. Sau lưng chỉ thấy vài vết tim tím như đánh gió. Thế thì ai tin ông! Họp chi bộ, ông Phan còn bị đội trưởng, đội phó phê bình là đặt điêu bịa chuyện để làm vẩn bầu không khí đoàn kết nội bộ!

- Nhưng người ta ở đây là aỉ Là những đứa nàỏ - Tùng hỏi gắt gỏng.

Minh gạt nước mắt, giọng đã cứng lại:

- Rồi em sẽ nói rõ. Mấy người này biết anh có võ, có sức, chứ không yếu ớt như ông Phan, nên người ta phải giấu mặt. Nhưng chúng em đã dám ra đây để xua đuổi họ, là không sợ họ rồị Là vì anh, anh hiểu chưả Em biết rồi em với cái Đào cũng sẽ bị dọa nạt, nhưng đến nước này thì chúng em không sợ. Đoàn thanh niên sẽ phải lên tiếng để nói lên sự thật. Lâu nay ở đây người ta coi thanh niên như trẻ con, như một lũ để sai vặt. Cần làm cái gì không công là huy động thanh niên. Cần vệ sinh đường sá, cống rãnh để đón khách, huy động thanh niên! Tát Đầm Cò để bắt cá nộp cho các hội nghị của xã, thanh niên! Cả đến việc sục vào từng nhà diệt chó để phòng chó dại, cũng lại thanh niên! Nhưng chưa bao giờ thanh niên được góp ý phê bình cán bộ, đảng viên ở đây, vì đấy là việc nội bộ cần nói hẹp? Bây giờ phải đổi mới đị Anh phải cứng rắn lên và không được gây sự vớ vẩn nghe chưả Em chẳng cần biết anh võ vẽ thế nào, nhưng nếu anh lại đi gây chuyện đánh nhau để trả miếng thì không ai ủng hộ anh đâụ Đào lại đây, không thèm khóc nữa! Hai người nói chuyện với nhau đi! Bây giờ mà còn hiểu lầm nhau, để người khác xúi bẩy thì rồi tan nát cuộc đời mà không biết. Rồi sẽ thù hằn nhau đến kiếp nào nữả Xé cha nó rạ Phải tự quyết lấy mình.
(Hết)