Hiển thị các bài đăng có nhãn nha ma. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nha ma. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 20 tháng 8, 2012

Truyện ma hay: Linh Hồn Ác - Chương 10

- Thế nào, đại úy bảo gì? Salhindro hỏi. - Bảo rằng tôi thôi điều tra cái xác cháy để chuyển sang vụ này. Brolin nhíu mày, hơi bực mình. - Tôi đoán là ông ấy yêu cầu tôi trở về. Brolin lắc đầu. - Tôi nghĩ là ông ấy thích kết thúc câu chuyện ghê tởm này một cách nhanh nhất trước khi báo chí kịp nhảy vào. Nhưng ông ấy không nói gì về anh cả. Anh có thể trở về nếu muốn, tôi sẽ làm vụ này. Salhindro đứng dậy. - Trở về để ôm ấp ai? Lũ chuột trong nhà kho hay trong hang? Thôi đi, chúng ta có nhiều việc để làm. Ngày đã đốt cháy những tia sáng cuối cùng của nó cách đây hai giờ. Đằng xa, hai người khiêng một cái cáng qua những thân cây, đi theo đường dích dắc giữa loạt đèn chiếu đặt trên giá đỡ ba chân. Mấy kỹ thuật viên sắp xếp nốt các ghi chép và sơ đồ của mình trước khi lên xe trở về. Brolin ngắm nhìn cảnh tượng siêu thực ấy: những chiếc đèn chiếu siêu công suất giữa rừng và khi rừng thưa ngập trong ánh sáng đỏ rực của đèn pha, ánh đèn flash từ máy ảnh của cảnh sát và tiếng lạo xạo của điện đài trong chiếc xe khoang. Miệng anh khô lại. Những phút dài ở trong ngôi nhà hoang cùng với xác chết để khám nghiệm. Việc đầu tiên mà anh làm sau khi tìm ra cái xác là xác định thời điểm chết một cách gần đúng. Xác đã cứng lại hoàn toàn. Brolin biết rằng hiện tượng đó (kết quả của sự co cơ sau khi chết do tác động hósa học) thường diễn ra trọn vẹn mười hai giờ sau khi chết và biến mất sau hai ngày, có nghĩa là trong trường hợp này, cô gái đã chết cách đây ít nhất mười hai giờ và nhiều nhất là bốn mươi tám giờ. Tức là chỉ mới xảy ra. Sau cuộc viếng thăm rùng rợn, Brolin đã mời đến đây hai kỹ thuật viên hiện trường vụ án, Scott Scacci và Craig Nova. Lúc đầu, hai người này mang một tổ máy phát điện tới cạnh ngôi nhà hoang để có thể lắp đặt những bóng đèn halogen công suất cao. Rồi họ chuyển sang xem xét tỉ mỉ bên trong ngôi nhà đổ nát. Vô số dụng cụ được dùng tới: đèn Polilight để phát hiện mọi dấu vết sinh học, máy in tĩnh điện để tìm vết chân, ninhydrin, nitrat bạc, màu đe amido và màu tím kết tinh để phát hiện vân tay… Nhưng hiện trường hầu như không còn nguyên vẹn, đầu tiên vì có cậu bé đã tìm thấy xác, rồi đến hai cảnh sát và bác sĩ trước khi Brolin và Salhindro vào. Lại thêm nhiều người khác đã từng vào đây vì có rất nhiều rác đủ loại bị vứt vào những thời điểm khác nhau đang chất đống ở đó. Craig và Scott lấy được nhiều mẫu phẩm cho vào những túi nhựa nhỏ, bao gồm tóc, lông và nhiều chất hữu cơ khác nhau vẫn chưa xác định được, và chụp hiện trường dưới tất cả các góc độ bằng máy Polaroid CU-5, chiếc máy ảnh phát ra hàng trăm tia sáng mỗi khi sử dụng. Những cây cà rốt cũng được mang đi để nhà côn trùng học phân tích xác nhận thời điểm chết nhờ nghiên cứu các côn trùng có trên xác. Brolin đang lùi về phía sau, nhưng anh đã bắt đầu ghi chép báo cáo. Trong cảnh hỗn độn như thế này, không thể cảm nhận hết mọi thứ ở đây như anh mong muốn, anh sẽ phải quay lại đây sau, nhưng anh yêu cầu mọi người chụp tối đa ảnh ngôi nhà và nhất là cái xác trước khi chuyển đi. Hồi ở FBI, phần lớn thời gian anh nghiên cứu qua báo cáo của cảnh sát, hoặc của bác sĩ pháp y, và qua ảnh. Rất hiếm khi anh được tới hiện trường, đây là một trong những thiệt thòi chính đối với anh. Nhưng Brolin biết rằng khả năng theo cuộc điều tra từng bước một, và nhất là có mặt ở nơi nạn nhân bị giết, là yếu tố chủ yếu để để dựng lại tâm lý của hung thủ. Bởi vì sau đó, anh phải bắt đầu nghĩ giống như tên giết người, cảm thấy mình như kẻ giết người để hiểu được hắn, và để làm được điều đó, không có gì tốt hơn việc đi theo hắn từ chính nơi hắn ra tay. Lúc này, Brolin đang nhìn những người khiêng cáng mang xác chết bọc trong túi đen đi, xung quanh là cả một vùng sáng giữa rừng. Craig Nova, một trong những kỹ thuật viên hiện trường, lại gần anh. Đó là một người đàn ông nhỏ con, khoảng bốn mươi tuổi, bộ tóc mọc thành vòng tròn quanh đỉnh đầu nhẵn bóng, trong hoàn cảnh này mà ông vẫn tỏ ra vui vẻ. - Chúng tôi đã làm những việc có thể, nhưng kết quả có lẽ phải chờ lâu, có đủ thứ bẩn thỉu trong kia, ông vừa nói vừa lau trán bằng khăn mùi soa. Chúng tôi sẽ phân tích tất cả, nhưng đừng mong đợi phép màu, chúng tôi tìm thấy khá nhiều vết chân và tóc, đủ để cậu phải mất vài ngày đọc báo cáo. Đống đổ nát này đã bị quá nhiều người ra vào. Brolin thở dài. Đoạn đầu của một cuộc điều tra dường như bao giờ cũng lộn xộn, phải sắp xếp trật tự mọi thứ mà không có một yếu tố cụ thể nào dù là nhỏ nhất. Sau khi đọc những báo cáo đầu tiên, các hướng điều tra sẽ được mở ra, ít nhất anh cũng hi vọng như thế. - Nhưng tôi đã có thể cho cậu một nhận định về thời gian chế, Craig nói tiếp. Ông lấy từ một trong những cái túi to trên bộ quần áo liền quần ra một cuốn sổ nhỏ và một cuốn nữa đầy các sơ đồ và hình vẽ phức tạp. - Đây…đây. Thế này, trước khi lấy nhiệt độ bằng cặp nhiệt điện, chúng tôi đã kiểm tra thấy cô gái không bị tổn thương ở rìa hậu môn. Tôi không phải là bác sĩ pháp y, nhưng ít nhất tôi cũng có thể nói với cậu rằng cô gái không bị hiếp dâm qua đường hậu môn. Tôi vừa gọi điện cho trạm khí tượng Portland, họ cho biết nhiệt độ trung bình ở đây la 22oC trong vòng bốn mươi tám tiếng vừa qua, ít biến động. Brolin thuộc lòng quy trình khám nghiệm, cụ thể là kết hợp các dữ liệu khác nhau liên quan đến khoảng cách nhiệt độ và trọng lượng cơ thể: bằng cách điều chỉnh chúng theo những yếu tố hiệu chỉnh phức tạp, người ta có thể phỏng đoán gần đúng về giờ chết. Khác với những gì thường thấy trên phim, việc xác định thời điểm chết không có gì là dễ dàng cả mà hoàn toàn ngược lại, đó là một nghệ thuật thường dễ gặp nhiều sai sót. Craig Nova nói tiếp: - Chúng tôi ước đoán trọng lượng của nạn nhân là năm mươi lăm cân và nhiệt độ ở hậu môn là 260C. Dựa vào tình trạng lão hóa thể của nạn nhân, điều kiện ẩm ướt của môi trường… Craig Nova mở cuốn sổ để tìm đường biến thiên mẫu và các barem điều chỉnh. Anh vạch ra ba nét bút chì rồi gật đầu, mắt nhìn chiếc đồng hồ đang chỉ quá hai mươi hai tiếng. - Hai mươi tiếng. Với sai số, chúng ta có thể ước đoán rằng cô gái chết đêm hôm qua, khoảng từ nửa đêm đến bốn giờ sáng. Điều này khớp với độ cứng của xác. Như vậy, cô gái đã mất tích vào đêm hôm trước, điểm này sẽ giúp xác định nhân thân, trừ khi cô bị giam giữ trong nhiều ngày, nhưng khả năng đó ít xảy ra vì không có dây trói hay vết trói ở cổ chân. Craig bật ngón tay. - Suýt nữa tôi quên mất. Anh lấy ra một tập ảnh chụp khuôn mặt nạn nhân bằng máy Polaroid chất lượng tốt. - Để bước đầu nhận dạng, anh nói. Brolin cầm lấy tập ảnh và nhét vào túi. - OK, cám ơn anh Craig, nhớ thông báo cho tôi trong thời gian nhanh nhất có thể. - Nhưng Carl DiMestro phụ trách việc này. Craig vẫy tay và nói thêm pha chút mỉa mai: - Chúc ngủ ngon. Rồi anh biến vào chiếc xe của mình, ở đó một trợ lý đang sắp xếp nốt những chiếc vali to đựng thiết bị. Brolin quay lại và thấy Salhindro đang hăng hái nói chuyện với sĩ quan Horner. Hẳn là ông đang giải thích cho Horner rằng do hoàn cảnh, nên cuộc điều tra sẽ không được giao cho họ, rằng thanh tra Brolin sẽ đảm nhận vụ này. Chương trình quá lớn, mới chỉ có mặt ở đây chưa tới ba giờ đồng hồ, nhưng anh đã cảm nhận được đây là một công việc khó khăn. Brolin đã đi quanh cái xác, quan sát kỹ càng và thấy rõ ràng nó rất giống với các nạn nhân của Đao phủ. Nhưng Leland Beaumont đã nằm sâu dưới ba tấc đất từ mười hai tháng nay. Hắn đã làm mồi cho giun. Thế nhưng hắn lại tạo ra một đối thủ, không nghi ngờ gì nữa, đây là một cách thể hiện lòng ngưỡng mộ. Hung thủ gây ra vụ này muốn cho tất cả mọi người thấy rằng hắn đánh giá cao “tác phẩm” của Leland Beaumont. Trong tiếng lóng người ta thường gọi kẻ đó là copycat – nghĩa là “người bắt chước”-, một kiểu sát nhân hàng loạt cực kỳ hiếm nhưng thường rất nguy hiểm. Những kẻ này còn đáng sợ hơn bởi động cơ của chúng thường bắt nguồn từ sự mê cuồng ghen tỵ đối với một kẻ giết người nổi tiếng, dẫn đến việc có nhu cầu giết người theo cách tương tự, nhưng muốn vượt qua “bậc thầy” về số lượng nạn nhân. Mà Đao phủ Portland mới chỉ dừng lại ở con số ba. Brolin lắc đầu, vẫn còn quá sớm để đưa ra bất kỳ kết luận nào. Anh còn phải nghiên cứu tỉ mỉ báo cáo pháp y cùng với các bức ảnh chụp nạn nhân tại hiện trường. Cảm thấy mọi người chờ đợi nhiều ở năng lực của mình, vị bác sĩ pháp y đã đưa ra những nhận xét đầu tiên tiến lại gần Brolin. Người này làm việc cho bác sĩ Folstom, giống như tất cả các bác sĩ pháp y khác trong thành phố. Nghĩ vậy, Brolin không thể nhịn cười thầm, anh nhớ lại khuôn mặt người đứng đầu cơ quan pháp y khi anh thông báo rằng anh phải đi ngay. - Chắc Craig đã nói với anh rồi, chúng tôi đã ước đoán thời điểm chết. Tất nhiên là chúng ta sẽ biết rõ hơn sau khi giải phẫu tử thi. Bác sĩ pháp y ngần ngừ như muốn xem có ai nghư trộm họ không rồi nói thêm: - Anh đã thấy thứ được dùng để đâm vào giữa hai đùi cô ấy chưa? Brolin gật đầu, mắt nhìn chăm chú. - Đồ điên nào có thể làm chuyện như thế cơ chứ? Bác sĩ pháp y thốt lên. - Một thằng điên khốn kiếp! Salhindro vừa tiến đến gần hai người, vừa bực tức nói. Một thằng điên khốn kiếp! Đằng xa, có tiếng cánh cửa ô tô đập mạnh, nhiều xe bắt đầu rời khỏi hiện trường. - Ngày mai, chúng tôi sẽ mổ xác, có lẽ vào buổi chiều, anh sẽ tham dự ca giải phẫu chứ? Bác sĩ hỏi. Salhindro lẩm bẩm: - Cứ làm như những gì đã thấy vẫn còn chưa đủ! - Tôi sẽ tới. Nhờ anh nói với bác sĩ pháp y sẽ giải phẫu đợi tôi, tôi sẽ qua lúc đầu giờ chiều, Brolin đáp bằng giọng vô hồn. Có mặt trong ca giải phẫu tử thi chỉ có thể có lợi cho anh để hiểu cơ chế của kẻ giết người. Hơn là chỉ đọc báo cáo, anh sẽ tận mắt theo dõi quá trình tái tạo các sự kiện, mỗi vết thương gắn liền với một hành động của kẻ giết người, rồi sau đó với một cảm xúc. Anh không hề thích công việc này, anh biết vì đã thất một số người bị các cuộc giải phẫu tử thi gây ấn tượng khó chịu đối với võng mạc mắt, một sự khó chịu bệnh hoạn in sâu vào tâm trí và tới ám ảnh những đêm sau đó. “Đúng là tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa”, anh nghĩ khi nhớ lại việc mình khéo léo né tránh báo cáo của bác sĩ Folstom lúc cuối buổi chiều. Salhindro nhìn anh, mắt mở to. - Dù thế nào đi nữa, nếu sếp biết tôi theo cậu tới đó, ông ấy sẽ chuyển tôi sang làm việc phân loại thư từ, ông nói. Rất tiếc, nhưng cậu phải đi một mình thôi, anh bạn ạ. Bác sĩ pháp y chỉ về phía chiếc xe cứu thương đang đợi ở đằng xa. - Tôi phải đưa cái xác vào ngăn lạnh đây, tôi sẽ báo tin cho anh về ca giải phẫu tử thi, bác sĩ nói rồi đi về phía chiếc xe. Salhindro vẫn nhìn Brolin, Brolin không động đậy, rõ ràng anh đang tập trung vào suy nghĩ của mình. - Cái gì luẩn quẩn trong đầu cậu thế? Salhindro vừa hỏi vừa kéo thắt lưng quanh cái bụng bệ vệ của mình. Một làn gió vừa thổi tới, đêm chậm rãi khoác lên khu rừng lớp áo choàng mát lạnh. Những chiếc đèn pha cuối cùng đã rời xa khiến hai người đàn ông chìm trong bóng tối dưới ánh sáng tù mù của đèn trên trần xe Mustang. Có sự tương phản rõ rệt giữa bầu không khí tịch mịch đang dần trở lại và sự náo động trong khi rừng suốt vài giờ vừa qua. Những chiếc đèn chiếu công suất lớn đã biến mất, và cùng với chúng là ánh sáng vô liêm sỉ trên hiện trường vụ án. Từ lúc này, thiên nhiên thận trọng lấy lại quyền của mình, dần dần phủ xuống lớp màn tối tăm và bí ẩn. Vài giây sau Brolin mới trả lời: - Kẻ gây ra vụ này. Tôi đang tự hỏi hắn có thể đang làm gì vào chính lúc này đây…

Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012

Chương 8 NGÔI LÀNG THỨ BẢY: HY SINH

Lòng hiếu kỳ của Đào Tử tăng dần lên khi cánh cửa cầu thang điện mở ra. Đôi chân cứ bước ra khỏi cầu thang như có một sức mạnh nào cuốn hút cô, cô phát hiện mình đang đi vào đại dương mênh mông của một sự sắp đặt có thứ tự. Đó là hệ thống tổ hợp của một chiếc máy chủ đồ sộ! Trên mấy trăm chiếc giá đầy ắp những bộ phận xử lý với các công năng khác nhau. “Có thấy lạ không?”. Tạ Phi đang đi sau lưng bỗng hỏi tôi. “Tất cả ở đây bao gồm các seri trò game, đều là tâm huyết của anh ấy đấy”. “Anh ấy” chính là Tần Ca - người lập trình viên đã mất tích mười năm trước đây, đôi mắt Đào Tử bỗng như sâu thêm, cô nghĩ như vậy và tự nhủ, hỏi như vậy không phải là không có căn cứ, mà cô hỏi là để khẳng định thêm cho mình. Không đợi Tạ Phi trả lời cô nói tiếp: “Tôi đã nghiên cứu kỹ càng bối cảnh xuất thân của anh. Chín năm trước, tức vào năm thứ hai sau khi Tần Ca mất tích, có một người mang họ Tần thi đỗ vào khoa tin học trường Bách khoa, sau khi tốt nghiệp anh ta lại đến Tỉnh Ma để học tiếp lên thạc sĩ”. Lúc đó, Tạ Phi vẫn bình tĩnh im lặng, cậu giống như một bậc vương giả nhìn xuyên suốt toàn cục. Anh ta điềm đạm nói: “Với kiến giải của cô thì cô cho rằng họ có quan hệ gì?”. “Về tuổi tác thì họ là hai anh em ruột. Tôi cũng đoán ra rằng, anh chính là em của Tần Ca, nhưng tôi không hiểu tại sao anh lại mang họ Tạ”. Câu nói của tôi không làm Tạ Phi giật mình mà ngược lại, anh ta còn cười ngặt ngẽo và nói: “Ngay cả thân phận còn không thật thì tên có ăn thua gì?” Mấy năm nay, để tìm tung tích anh Cả, hắn vùi đầu vào học, mai danh ẩn tích… tất cả những gian nan vất vả đó giờ đã tìm ra tên đầu sỏ gây án, nên sau cơn kinh hãi thoáng hiện trên mặt là niềm vui được giải phóng. “Anh ruột tôi đâu phải mất tích, anh ấy đang ở đây!” Câu nói đột ngột của Tạ Phi làm Đào Tử giật mình, cô đảo mắt nhìn quanh chỉ thấy ngoài hai người là cô và Tạ Phi ra chẳng thấy gì ngoài những cỗ máy đồ sộ nằm im bất động. “Anh trai tôi là một thiên tài lập trình, chính anh ấy đã viết phần mềm mẫu cho seri trò chơi “Bảy ngôi làng ma”. Trong khi kể về sự thật về anh trai mình mặt Tạ Phi bỗng sa sầm xuống, giống như bị quỷ ám. “Nhưng cô biết không? Tên tiểu nhân Trần Hoa đã dùng thủ đoạn đê tiện để cướp đoạt thành quả đó. Công ty phần mềm cái quái gì, nếu không có seri trò chơi của anh trai tôi thì chúng có giàu có như bây giờ không? Còn tên Trịnh Dung Tân nữa, hắn rõ ràng biết chuyện nhưng không dám lên tiếng mà im như thóc, thật hắn quả là đồ bỏ đi”. Chân tướng sự việc đã bắt đầu được hé mở, cố ghìm nén sự kích động trong lòng Đào Tử lặng im nghe Tạ Phi nói tiếp. “Cô có biết, khi một người thanh niên khắc khổ học tập, làm việc, kinh doanh nhưng lại bị kẻ khác chiếm đoạt cả tiền tài lẫn danh tiếng, sẽ có cảm giác thế nào không? Anh trai tôi lẽ ra có thể từ chức, từ bỏ thế giới game, nhưng anh ấy đã vì tôi, vì tôi vẫn còn trong cái ngôi làng cắn đất mà ra sắt, chó ăn đá gà ăn sỏi đó mà ở lại công ty. Anh ấy muốn cho tôi một cuộc sống khá hơn, nên đành phải im hơi lặng tiếng. Tên Trần Hoa đe dọa, nếu không làm việc tại công ty hắn thì đừng hòng làm việc được ở đâu, dù đến chân trời góc biển hắn cũng truy lùng để giết chết”. “Nhưng rốt cục hắn đã nhẫn tâm giết anh trai anh còn gì?” Đào Tử hỏi nhưng thấy Tạ Phi dường như không nghe thấy gì, hình như hắn đang trầm ngâm trong ký ức đau khổ đó. “Tôi nghĩ, anh ấy ý thức được cái chết sẽ đến với mình nên đã ôm tất cả nỗi hận đó ném vào trong seri trò chơi “Bảy ngôi làng ma”. Năm thứ hai sau khi trà trộn thành công vào trong công ty Trần Hoa, thì tôi phát hiện ra bí mật đó. Tôi đã viết lại trò chơi, đã phong kín hơn mười năm đó, để nó có thể thích ứng với trào lưu thời đại và hệ thống vi tính hiện đại, hoàn thành ý niệm báo thù của anh trai tôi. Đào Tử không hỏi gì thêm, bây giờ, điều hoài nghi lớn nhất trong đầu cô là: “Làm sao mà Tạ Phi biết được những bí mật liên quan tới Tần Ca? Chẳng lẽ người ta có thể nói chuyện được với người đã chết?” Dường như đọc được những suy nghĩ của cô, Tạ Phi lấy một bản vẽ từ trong hộp tin ra bảo: “Chính những bức họa này đã nói cho tôi biết tất cả! Trong tầng hầm này, tôi có thể vẽ lên linh hồn của anh tôi, anh ấy đang ở đây”. Nói xong, Tạ Phi tiêu hủy hết đống bản thảo đó. Những tấm vẽ phác thảo lập tức bay lả tả trong không trung, giống như những bông hoa tuyết cực lớn. Đại bộ phận những bản phác thảo đó mô tả câu chuyện cuối cùng trong “Bảy ngôi làng ma”, câu chuyện của chính người đã thiết kế ra nó, tức là những chuyện mà Tần Ca đã trải qua trong trò chơi. Cũng giống như số mệnh của người trải qua trong trò chơi, nó có cái tên mang tính khái quát là “Hy sinh”. Mấy năm trước, tôi có ăn phở ở một thị trấn của huyện nhỏ, không ngờ, bát phở đó đã làm thay đổi cả cuộc đời tôi. Ông chủ gánh phở rong đi chiếc xe đạp, sau yên xe có đèo thêm chiếc sọt đan bằng cành liễu, cả thức ăn toàn bộ gia sản đều nằm trong chiếc chén nhỏ bằng sứ xanh rồi mang cho tôi. Bát phở đó tôi đã ì à ì ạch ăn trong hơn nửa giờ, ăn xong tôi bắt chuyện với ông lão, rồi tôi đã mua cái bát xanh bằng sứ đó với giá hơn hai mươi đồng. Ngay hôm đó, tôi không có thời gian để tiếp tục công việc kiếm tiền mà tôi đang thực hiện nữa, lập tức bắt xe trở về. Trong suốt quãng đường đi, tim tôi cứ đập liên hồi. Tuy chưa được xác nhận chính xác, nhưng tôi tin rằng, bảo bối tôi có được đó là cái chén được làm từ đời Nguyên. Chiếc bát đó không những quý vì nó là cổ vật mà nguyên liệu làm ra nó cũng rất hiếm, công dụng chủ yếu là để cúng tế, rất hiếm trong dân gian. Không biết mộ tổ nhà tôi có phải đã mọc cỏ cảo không mà khiến tôi có được chiếc bát này. Chiếc bát nhỏ đó đã bán với giá tám mươi vạn nhân dân tệ, đó là món thu nhập lớn nhất kể từ khi tôi buôn bán đến nay! Nửa năm sau, khi đọc một tin trên mạng, tôi được biết cũng chiếc bát đó đã được bán với giá hơn hai triệu. Từ đó, tôi bắt đầu theo định kỳ đi đến các vùng hẻo lánh và những ngôi làng ma, mua lấy những cổ vật vô giá mà người dân ở đó thường xem như đồ bỏ đi. Quả thực, tôi đã trở thành người buôn đồ cổ. Khi bước vào nghề tôi chỉ đặt ra mục tiêu là kiếm tiền, lừa đảo những người nghèo nàn thiếu học, thiếu hiểu biết. Nhưng về sau, tôi đã nghiện cái nghề này. Trước khi hành nghề tôi là một nhà thơ, mấy năm liền trước đó nó khiến tôi không còn lòng dạ nào kinh doanh nữa, đã không kiếm được tiền mà người tôi xem ra bốc lên toàn mùi đồng và mùi đồ cổ. Sau khi trở thành người buôn đồ cổ, tôi đã đi du lịch khắp đó đây trên thế giới, điều đó đã thỏa trí nguyện ngao du sơn thủy, khi tìm được báu vật trong đống đổ nát hoang phế, tôi bỗng thấy tự hào hơn cả Cô_Lôm_Bô khi phát hiện ra châu lục mới. Hiện nay, trong một năm phải có hơn tám, chín tháng ròng tôi ở trong những ngôi làng hẻo lánh để truy tìm cổ vật. Tuy rằng có lúc suốt cả mấy tháng liền tôi chẳng kiếm được món đồ cổ nào, nhưng trong lòng tôi luôn kiên định niềm tin sẽ có ngày kiếm được bảo bối. Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng trên đời này còn có nhiều đồ cổ vật đang khuất lấp sau lớp bụi nhơ bẩn chờ bàn tay tôi mang chúng trở lại trong ánh hào quang của tiền bạc. Mùa hè năm nay, tôi đã ngồi trên xe suốt hơn bốn mươi giờ, đi đến các ngôi làng hẻo lánh vùng Tây Nam Trung Quốc. Trong huyện lỵ nhỏ bé hẻo lánh nghèo nàn đó, mưa lâm râm suốt ngày suốt tháng, bốn bên đều có núi cao vây chắn, đây quả là một ngôi làng khép kín điển hình. Con đường nhỏ trong huyện sạch bóng sau cơn mưa, những ngôi nhà gỗ và mặt đường lát đá xanh đẹp như tranh thủy mặc. Ngày ngày, ngoài thời gian đi loanh quanh các con phố, ngõ hẻm ra tôi ngâm mình vào trong một quán trà nhỏ duy nhất trong huyện. Khách chính trong quán trừ một vài ông lão trong làng ra thì đều là khách vùng khác đến. Người vùng khác rất hiếm khi đến vùng này, người muốn đến quán nhỏ này uống trà càng ít. Trong quán ngoài tôi ra, chỉ còn có hai người trạc tuổi tôi - khoảng hơn ba mươi, thế là tự nhiên chúng tôi ngồi lại với nhau, bàn tán dăm điều ba chuyện mua cười! Trái đất quả là tròn, hóa ra hai người đó cũng là đồng nghiệp với tôi, họ vốn là những người ở thành phố đã quen sống sung túc, được cha mẹ cưng chiều từ nhỏ. Nay phải chịu thiệt thòi, phải chôn mình nơi vùng chó ăn đá gà ăn sỏi này để mong chờ có ngày tìm được báu vật đồ cổ. Tối hôm đó, chúng tôi ngồi lại với nhau uống rượu. Lúc đó, tôi mới biết tên đầu trọc là Vương Lỗi, trông hắn vai u thịt bắp, từng lăn lộn trong chốn giang hồ, có lần bị chém phải nằm viện hơn nửa năm, sau khi xuất viện gan hắn bỗng trở thành gan thỏ, không dám cầm dao nữa chứ đừng nói chuyện chém nhau giết người. Ông nội hắn trước từng buôn đồ cổ, ông ta có chút hiểu biết về món chơi này, con nhà tông không giống lông cũng giống cánh, đứa cháu đã kế nghiệp tổ truyền, cũng đi buôn đồ cổ. Tên nói chuyện cứ lắp ba lắp bắp là Đàm Xuyên, lớn tuổi hơn Vương Lỗi, nhỏ hơn tôi vài tuổi, tên này ít nói, thoạt nhìn cứ tưởng hắn là người mưu sâu kế hiểm, nhưng tiếp xúc lâu thấy hắn là người thật thà. Trước đây hắn ở Cục di sản vì đánh cắp cổ vật nên bị đuổi khỏi cơ quan, từ đó hắn danh chính ngôn thuận trở thành người buôn bán đồ cổ. Hai tên này đến trước tôi mấy hôm, nhưng công việc làm ăm trong huyện nhỏ nghèo kiệt xác này không ra gì. Ở vùng này tuy là xa xôi hẻo lánh nhưng mỗi năm có đến mấy mươi lượt người đến hỏi mua đồ cổ nên đồ quý giá đã bị họ quét sạch sành sanh. “Qua mấy hôm nữa, các vùng lân cận và trong vùng này sẽ có buổi chợ phiên ở đây”. - tên Đàm Xuyên nói. Đây cũng là lý do chính khiến chúng tôi ở lại đây. Nói thực, trong vùng nhỏ tẹo này mà lại đụng hàng thì tôi không thích chút nào và cảm thấy có chút áp lực nào đó! Đồ tốt đã không nhiều lại nhiều người mua, kiểu san sẻ này quả là bất tiện. Nhưng thiết nghĩ. Cái nghề này ngoài vận may ra thì trình độ nghề nghiệp cũng rất quan trọng nên dù nhiều hay ít cũng không thành vấn đề. Nếu thiếu bản lĩnh, thì bảo vật nằm trước mắt cũng không biết. Trong ngày trời nhiều mây có mưa, cái huyện nhỏ này như ngâm mình trong nước, đâu cũng ẩm thấp, chăn đệm trong quán dường như lúc nào cũng có thể ra nước. Là người bôn ba đã nhiều như tôi vẫn thấy không chịu được, may mà chợ phiên chỉ còn 3 ngày nữa là họp. Nhiều vùng nông thôn cho đến giờ vẫn còn tiếp tục chợ phiên, mỗi chợ phiên cách nhau càng lâu thì hàng hóa mang ra mua bán càng phong phú. Trong cái huyện này đến nửa năm mới họp một lần nên nhộn nhịp hết sức, quả tôi không ngờ đến. Hơn nữa, hình như trời cũng biết chiều theo lòng người, hơn nửa tháng nay trời hanh ráo, có hôm còn có cả ánh mặt trời. Tôi dạo bước trên đường vào chợ, vừa đi vừa tắm mình trong nắng, vừa phơi “tâm hồn” mình luôn. Đôi mắt cũng như ốc sên ngủ đông, đến hôm trời nắng cứ thế mà bổ lung tung. Chợ tại vùng nông thôn hẻo lánh thông thường người ta chỉ bán những nhu yếu phẩm hàng ngày, thỉnh thoảng các vùng lân cận mang theo những đặc sản của vùng mình. Chợ kéo dài suốt mấy dặm, dường như nó chiếm cả hai con đường giao thông chủ yếu của huyện lỵ này. Nếu nơi đây vẫn còn là một nhà thờ như ngày xưa, thì tôi đã ngất ngây trong cái không khí mang đậm bản sắc văn hóa của từng vùng miền này rồi, nhưng giờ tôi đã là một người buôn đồ cổ, mục tiêu của tôi là mua rẻ mạt những bảo bối bị sự ngu dốt thiếu hiểu biết của người dân che lấp rồi mang chúng lên các thành phố hiện đại để bán kiếm món tiền hời cho nên phiên chợ này, ngược lại tôi thấy mệt lả, chán chường, thất vọng, lưu lại hơn một tuần, tiền trong túi đã hết, hàng cũng không có, chuyến này đành phải gióng trống thu quân, treo cờ trắng thôi! Quá trưa, tôi ăn qua loa vài miếng cho đỡ đói rồi tiếp tục săn tìm bảo bối. Thời gian đã không phụ lòng người có tâm, chẳng mấy chốc, tôi phát hiện ra một lọ gốm. “Lọ ngũ LiêN”. Tim tôi như nhảy vọt lên theo đôi mắt, tôi vội quay đầu nhìn dáo dác bốn bể, không phát hiện thấy hai ông bạn “đáng quý” đồng nghiệp kia. Thật hú hồn hú vía! Người xưa nói quả là không sai chút nào: đồng nghiệp tương khắc mà! Lúc đó tôi mới nhìn chàng trai bán lọ kia. Hắn trạc bốn mươi tuổi, khuôn mặt đen như cột nhà cháy, thô tháp như vẻ ngoài dầm sương dãi nắng đã nhiều. Bây giờ, những người như hắn đi chợ rất nhiều, tuổi thực của họ trẻ hơn nhiều so với hình vóc họ. Họ không nói năng hay chào hàng gì mà cứ ngồi bất động sau sạp hàng chờ người đến hỏi mua đồ. Tôi ngồi xổm trước mặt anh ta, thỉnh thoảng đưa tay hươ hươ mấy chân nấm rừng đã khô trong chiếc sọt tre. “Món này của anh được đấy, mua về thết bạn bè thì tuyệt đấy!” tôi giả giọng tiếng phổ thông chập chọe để bắt chuyện với anh ta. Anh ta chẳng nói chẳng rằng, nhưng nhìn vào đôi mắt đầy hy vọng của tôi. Tôi luống cuống hươ mấy cây nấm khô và hỏi: “Bao nhiêu chỗ này?”. Trên khuôn mặt hắn tỏ ra nét cười gượng gạo. Anh ta vừa ra giá tôi đã biết anh ta là người chất phác nên tôi không trả giá gì cả, cứ thế nhét vào túi đựng. Anh ta đếm một cách cẩn thận, lấy ra tờ năm mươi đồng trả lại, tuy không nói gì nhưng tôi biết đó là số tiền thừa khi mua hàng này nên anh ta trả lại cho tôi. Tôi không cầm tiền mà cầm chiếc lọ lên nói: “Anh cứ cầm đi, tôi mua chiếc bình này nhé?”. Anh ta cũng không nói gì chỉ ngẩn người nhìn tôi. Tôi cười, trong bụng như hoa xuân đang nở, đoán biết những người trong vùng hẻo lánh này chắc khó lòng cưỡng lại được sức cuốn hút của năm mươi đồng! Ở vùng này giá cả vật dụng rất rẻ, chỉ cần năm mươi đồng đủ mua được khối thứ. Nhưng tôi đã nhầm, anh ta đưa tay giật lấy chiếc lọ trong tay tôi. Lúc đó, trên mặt anh ta nở một nụ cười kỳ quái. Khi bạn thấy trên khuôn mặt chất phác ai đó bỗng nở nụ cười đầy âm mưu, thì bạn sẽ có cảm giác của tôi bây giờ. “Tiền này trả lại cho anh đấy, vật này không thể cho anh được!” Gã mặt đen nói. Tôi lấy trong túi ra mấy tờ tiền giấy như kiểu đánh bạc đưa anh ta và bảo: “Thôi thế thì tôi thêm cho anh mấy đồng vậy”. Gã mặt đen không nói năng gì chỉ cười, bây giờ nụ cười anh ta càng có vẻ quỷ quyệt hơn. Lúc đó, tôi chợt nhớ lại câu chuyện “Bà già mua mèo” rất nổi tiếng. Bà lão lấy cái bát đồ cổ thật quý để cho mèo ăn, trong khi bà ta mang mèo ra chợ bán, chẳng lẽ gã này cũng dùng chiêu mang cái lọ gốm cổ này để chào hàng mong họ mua nấm khô của mình cũng nên. Nhìn nụ cười trên khuôn mặt của gã mặt đen, tôi thấy mình không thông minh như mình nghĩ. Chiếc lọ đó kể cả hoa văn trên lọ là năm cái liền nhau nên gọi là lọ Ngũ Liên, loại lọ này chuyên đựng hồn người. Sao lại gọi là lọ đựng hồn người? Nói tóm lại, lọ Ngũ Liên là loại lọ chuyên dùng để đựng thức ăn cho người chết, là vật dụng hàng ngày của người âm. Đến nay, vẫn còn rất nhiều vùng biên giới còn tin là linh hồn bất tử, cho rằng, khi có người chết chẳng qua là cái chết của thân xác bằng xương thịt chứ linh hồn vẫn còn tồn tại nhưng lúc này đã tồn tại trong một thế giới khác. Ở thế giới đó, họ cũng sinh hoạt hệt như khi còn sống. Vì thế loại lọ này, ngoài việc cúng tế cho hồn người chết ra, nó còn là nhà ở cho người chết, họ tin rằng, hồn người chết trú ngụ trong chiếc lọ đó, nên chiếc lọ này là cầu nối giữa thế giới người sống và thế giới bên kia. Thoạt nhìn, tôi đã nhận ra ngay đó là chiếc lọ cổ, có nghĩa là ít nhất nó cũng được vài ba trăm tuổi, có thể ông tổ tiên anh ta truyền lại. Chiếc lọ này nếu được mang ra các thành phố lớn để bán, thì nó thuộc hàng độc, không biết bao nhiêu tiền, ít ai nói trước được. Nếu mua được chiếc lọ xem như chuyến này đã thành công. Trên chiếc lọ này nếu nhìn kỹ, sẽ thấy những hoa văn mờ nhạt, tôi đưa tay sờ sờ mới biết những hoa văn đó đã được vẽ trước khi đem nung. Có hình vẽ trang trí cũng là bình thường, không có gì đáng nói, điều mà nó hấp dẫn tôi là ý nghĩa của những hoa văn đó. Trong hình vẽ trang trí, họ đã chấm phá vài đường nét hình mặt người rất đơn giản, rất trừu tượng, nhưng bất kỳ ai chỉ cần nhìn kỹ là sẽ thấy đó là hình mặt người. Cuối hình mặt người có kẻ một đường sâu xuống đáy lọ, xuống gần đáy lại có hình tam giác ngược, trong hình tam giác lại có thêm mấy đường giống như cỏ vậy. Trước nay tôi chưa thấy kiểu trang trí nào như thế cả, nhưng cũng có thể nhận thấy đó là phong cách trang trí thời tiền sử. Nếu may mắn chiếc lọ này chắc cũng có hơn vài nghìn năm tuổi, như thế, nếu mang ra thành phố hiện đại thì cái giá của nó phải lên đến con số ngoài sức tưởng tượng của tôi. Càng nghĩ tôi càng thấy trong lòng khoan khoái nao nức, càng nao nức thì càng không thể bỏ qua cơ hội này. Nhưng bất luận nói gì, gã mặt đen kia vẫn lắc đầu, vẫn cứ cười nụ cười bí hiểm đó. Sao mình lại có thể thất bại dưới tay một kẻ ngu dốt mọi rợ này được! Thế mà tôi lại bó tay hết cách trước gã mặt đen quê mùa dốt nát này. Tôi nghĩ hay phải tìm cách khác? Thế là sau khi tan chợ tôi ngầm theo bước gã mặt đen kia. Tôi nghĩ, chiếc lọ này không thể cất giữ riêng biệt, có lẽ trong làng này còn có nhiều thứ khác tương tự. Chỉ cần theo chân gã, đi đến ngôi làng mà gã đang sống chắc còn nhiều thứ đồ cổ quý giá khác, không chừng tôi sẽ phát hiện được hàng loạt bảo bối như thế hoặc tương tự như thế. Đến lúc đó ta có thể mặc sức mua vài kiểu, tha hồ kiếm lãi! Gã mặt đen đến cuối chiều tan chợ mới về, vì tôi đã chuẩn bị trước, nên mang theo vài thứ cần thiết, tôi lẽo đẽo bám theo anh ta. Gã đi bộ, tuy lưng cõng một cái sọt to đùng nhưng vẫn lao như tên bay trên con đường sườn núi về nhà. Thật khổ cho tôi, tôi chưa bao giờ phải chịu như vậy, vừa bò vừa trườn bám theo anh ta không để lạc mất, lại vừa phải cố gắng không cho anh ta biết. Trời càng lúc càng tối, màn đêm vây bủa xuống núi rừng, cứ nhấp nhem những thứ gì không rõ lắm, chúng giống như những quái thú ẩn trong đêm. Những con chim lạ cứ kêu hoài không thôi, các động vật rắn rết không nhìn rõ lắm cứ lấp la lấp loáng. Tôi thấy hai chân nặng như mang chì, vừa đi vừa run, không phải tôi là thằng nhát gan, nếu là người khác thì cũng khiếp vía giống tôi thôi. Sau đó, tôi đi như cái máy, động lực giúp tôi tiếp tục đi được là chiếc bóng của gã mặt đen trước mắt, vì thế nếu để lạc mất anh ta thì tôi sẽ rơi vào thảm cảnh nếu không bám theo anh ta, thực tình tôi không biết sẽ phải đi về đâu, bốn bề là rừng rậm bao la, dãy núi trước mắt chỉ còn sót lại vài chiếc bỗng thưa thớt, cứ dật dờ không nhìn rõ ra được. May mà khi trời tối anh ta đã thắp đuốc lên, tôi cứ thế bám theo ngọn đuốc, không biết đã đi được bao lâu, bỗng tôi hẫng người như đi vào khoảng trống, ngã lăn nhào lộn tròn mấy vòng… Khi dừng lại, trên vai đau buốt như bị ai đâm, nhưng cũng may là không bị bong gân trật khớp gì. Ngẩng đầu lên, tôi không thấy ánh đuốc nữa. Tôi ngẩn người một lát, rồi nhanh chóng nhận ra ngay hậu quả của việc không tìm ra ánh đuốc. Tôi đã mất phương hướng trong cánh rừng bạt ngàn giữa đêm đen, nếu may mắn, tôi chỉ sống sót như một người rừng. Tôi dần thấy sợ, nỗi sợ và lạnh đã ngấm vào tôi, đục khoét tôi. Đột nhiên tôi chạy về phía trước, tôi phải tìm ra gã mặt đen trước khi anh ta đi khuất quá xa. Lúc đó, tôi không còn thời giờ để giấu mình nữa, tìm ra một người bạn trong lúc này còn quý hơn cả vàng bạc. Gã mặt đen thực sự mất dấu, tầm mắt tôi nhìn ra đâu cũng chỉ thấy một màu đen kịt của đêm trong núi rừng. Trước mắt có cái đuốc thấp thoáng, tôi bò lên, thở phào nhẹ nhõm. Trước dốc là một bức tường đứt đoạn, tôi đang trên bức tường bị đứt đó. Gió từ xa thổi lại, chiếc áo ướt đẫm mồ hôi dính sát vào người lạnh tanh, tự nhiên tôi thấy sảng khoái. Điều khiến tôi vui mừng hơn đó là trước bức tường đứt, có mấy điểm sáng của ánh đèn lấp loáng như sao rụng. Hơn nữa mấy điểm sáng đó cứ tiến lại gần nhau hơn. Chùm sáng di động chắc là ánh đuốc của gã mặt đen, còn mấy điểm sáng đó chắc là làng mạc… Lúc đó, niềm vui cuối cùng đã làm chùng dây thần kinh của tôi, cái mệt nhọc bọc lấy tôi như màn đêm đang bủa vây lấy núi rừng, vũ trụ vậy. Tôi ngồi bệt trên mặt đất thở hổn hển… Lúc đó, tôi nghe sau lưng có tiếng gì như tiếng dế, quay phắt cả lại nhìn về phía phát ra tiếng kêu, tôi chẳng thấy gì cả! Nhưng tiếng dế kia vẫn còn. Tôi rùng rợn hết cả người, động vật kỳ quái, không biết giờ nào là giờ kiếm ăn của chúng, không chừng tôi lại trở thành mồi ngon trong miệng chúng. Tôi cẩn thận đứng dậy, nhìn quanh bốn phía không thấy vật gì làm vũ khí. Tiếng kêu đó ngày càng to, lúc đó, trong tiếng dế tôi còn nghe thấy cả tiếng bước chân người. Tôi theo gót gã mặt đen đã lâu, ngoài hai chúng tôi không thể có người nào khác. Lúc đó đã hơn nửa đêm, lại còn ai ở đây làm gì nữa chứ? Sau lưng tôi là vực sâu muôn trượng, không thể rút lui, tôi đành đứng yên bất động đợi tiếng bước chân càng lúc càng gần. Cuối cùng tôi thấy hai bóng người xuất hiện dưới ánh trăng, tuy không nhìn rõ hình dáng họ, nhưng tôi nhận ra chúng, tên đầu trọc Vương Lỗi và Đàm Xuyên. Không phải chúng đang ở lại trong chợ để mua đồ cổ sao, sao chúng lại xuất hiện ở đây. Tôi nghĩ mãi mới suy đoán rằng, chắc chắn chúng cũng đã nhìn thấy chiếc lọ của gã mặt đen. Chúng cũng như tôi, không thể dùng mánh khóe nghề nghiệp để mua chiếc lọ kia được, nên mới bám gót tên mặt đen này rồi đến đây. Bây giờ, cả Vương Lỗi và Đàm Xuyên thấy tôi, chúng gọi tên tôi, hớn hở cười cười nói nói lại gần tôi. Tôi đứng sững người nhìn họ với ánh mắt trìu mến. Tôi không giận vì họ đã tranh giành với tôi và đã bám gót tôi, từ hồi chiều chúng đã theo tôi, suốt chặng đường chúng không gọi tôi cũng không để tôi phát hiện ra. Đây gọi là bọ ngựa bắt ve sầu không ngờ chim sẻ đứng sau lưng, rõ ràng chúng đã tính trước tôi, trên con đường này mà gặp được bạn thì còn quý hơn vàng, có bạn không những khiến cho mình gan dạ hơn mà còn có thể giải quyết được khá nhiều việc. Tôi nhặt hai viên đá nhỏ ném về phía chúng. Chúng cùng cười rộ lên sảng khoái, tên đầu trọc Vương Lỗi nói: “Anh quả là gan dạ thật, một mình đi xa thế, anh em chúng tôi khâm phục anh rồi đó!” Dưới chân núi là ruộng lúa mênh mông. Lúa đang thì trổ bông, từng cơn gió thoảng qua làm những đám lúa có mấy hình nộm, dưới ánh trăng mờ tuy không nhìn thấy được vẻ hung tợn của nó. Tôi cùng tên Vương Lỗi, Đàm Xuyên, cả ba người, đang băng mình trên đường bờ ruộng, nhắm thẳng về phía ngôi làng trước mặt. Đêm đã về khuya, mấy ngọn đèn thấp thoáng trên núi giờ đã tắt, chỉ còn lại lưa thưa vài ánh sáng yếu ớt. Vì chúng tôi gồm có ba người cùng đi chung lên cũng khá bạo gan, vừa đi vừa kể chuyện cười… Tâm lý của chúng cũng giống tôi, cũng muốn vào làng này kiếm được vài thứ đồ cổ mang về. Nhưng không ai dám chắc được kết quả ra sao. Vào làng, chỉ thấy mấy ngôi nhà xây bằng gạch đá, chắc chắn những ngôi nhà đó cũng đã có tuổi! Trong các kẽ hở giữa bức tường đá, mọc đầy những cây hoang cỏ dại. Đường làng tiếp nối với các bờ ruộng nhỏ ngoài đồng, chúng tôi chung bước trên con đường nhỏ, cứ dáo dác nhìn quanh bốn phía, nhưng cả ngôi làng vẫn đang chìm trong im ắng, đâu đâu cũng lặng ngắt như tờ, cả tiếng chó cũng chẳng nghe thấy. Ánh trăng lạnh lùng rải xuống ngôi làng và núi rừng hoang dại. Lúc đó, cả ba chúng tôi đều cảm thấy lạnh người, ngôi làng ngập chìm trong hơi sương lạnh buốt. “Hay là chúng ta tìm chỗ dừng chân tá túc trước đã?” tên trọc đầu Vương Lỗi nói. Chúng tôi đã đi hết cả một buổi chiều, lại tiếp thêm leo núi từ chập tối đến hơn nửa đêm, người hết chịu nổi. Bây giờ mà có được bữa cơm no rồi lăn đùng ra chiếc giường sạch sẽ thì đó là thiên đường của chúng tôi bây giờ. Nhưng ngôi làng lặng ngắt không một tiếng động, ngay cả bóng ma cũng chẳng tìm thấy, nhà cửa đóng then cài lấy đâu ra nơi cho chúng tôi tá túc? Tôi muốn đến sườn núi, nơi có ánh đèn chưa tắt, chắc họ cũng chưa đi ngủ… Thế là việc kế tiếp của chúng tôi là phải tìm ra ngôi nhà nào có đèn còn sáng gần chúng tôi nhất. Những nhà như thế cũng đang chờ chúng tôi đến tìm ngủ trọ! Chúng tôi đứng trước cổng một ngôi nhà đèn đang sáng nhìn nhau rồi tôi đi lên gõ cửa. “Cốc cốc cốc”. Tiếng gõ cửa trong đêm vắng nghe rất chối tai. Một lát sau, bên trong nghe có tiếng bước chân, rồi lách cách mấy tiếng, cánh cổng mở ra… Cả ba chúng tôi thụt lùi mấy bước, người ra mở cổng lộ vẻ đầy hoài nghi. Trong cánh cửa có cô bé khoảng mười tuổi, tóc dài quần trắng. Mái tóc buông xuống phủ kín hai má, đôi mắt lấp lánh sau mái tóc đen óng, đờ đẫn nhìn ba chúng tôi. Tôi tin rằng, cô bé này không cần phải trang điểm, nếu cứ thế mà đóng phim kinh dị thì rất đúng vai, còn phải trang điểm gì! Nửa đêm canh ba, bất chợt trông thấy cô bé như thế thì dù gan có to đến mấy cũng phải run chân đứng không vững. Tôi đánh bạo tiến lên mấy bước chần chừ hỏi: “Cô bé, cho hỏi ở trong làng này có nơi nào có thể nghỉ qua đêm không?”. Vốn là muốn xin tá túc trong nhà này nhưng trông cô bé hình thù quái dị, nên chúng tôi đành đánh trống lảng, không dám xin nghỉ trọ nữa. Cô bé không đáp, không có cử chỉ nào biểu hiện phản ứng sau khi nghe tôi hỏi. Đôi mắt như ánh lửa chớp chớp, rồi nó cúi mình sang một bên. Ánh đèn từ sau lưng cô bé rọi tới, chúng tôi nhờ thế bạo dạn hơn, lúc đó, có giọng nói đàn ông từ trong nhà vọng lại: “Có phải là ba người ngoài làng đúng không?”. Tôi cả kinh, người trong kia không ra sao lại biết ba người chúng tôi từ ngoài làng đến? Đợi đến khi người kia xuất hiện sau tấm cửa, chúng tôi mới thở phào nhẹ người. Không ai khác mà đó chính là người đã dẫn chúng tôi tới đây. “Sao các anh phải khổ thế? Tội tình gì chứ?”. Gã mặt đen tiến tới trước mặt chúng tôi, khuôn mặt tỏ ra tiếc nuối. “Nếu anh bán cho tôi cái lọ NGŨ LIÊN đó thì việc gì chúng tôi phải khổ sở lặn lội đường xa đến đây”. Tôi đáp. “Ư hừ… được rồi, các anh đã đến thì trước tiên hãy vào nhà tôi nghỉ lại một đêm đã, sáng mai tôi sẽ đưa các anh về”. Tên đầu trọc Vương Lỗi và Đàm Xuyên hình như muốn tiến lên nói gì đó nhưng thấy tôi đưa mắt ra hiệu là cả hai thôi không nói nữa. Gã mặt đen dẫn chúng tôi đến một căn phòng, trong phòng chỉ có một cái giường và một cái cửa sổ mở ra phía con đường lúc nãy chúng tôi đi đến đây. Mở cửa ra, cả ba chúng tôi ngồi trên giường sáu mắt nhìn nhau. Trong vùng cực kỳ hoang vắng hẻo lánh này, chỉ cần có chiếc giường là được rồi, cả ba chúng tôi người to như con tượng, không thể nằm chung trên một chiếc giường nhỏ này được, nhưng có giường để ngồi tựa mà ngủ cũng là lý tưởng! “Ngày mai, ngày mai các cậu thực sự dự định quay về chứ?” Tên nói năng ấp úng hỏi chúng tôi. “Qua đêm nay hẵng hay”. Tên đầu trọc không chút lo âu gì nói: “Đến sáng sớm mai, chúng ta đi dạo trong vùng này xem sao, các ông mày đã đến đây rồi chẳng lẽ lại về không!”. “Thế thì chúng ta cứ thế mà làm, sáng sớm mai, ai đi đường nấy, tìm được cái gì thì được, điều đó còn trông vào vận may của mỗi người, cả ba chúng ta cùng nghề nhưng chỉ cần không ai chơi đểu ai là được”. Tôi nói với hai gã kia. Cả hai tên kia cũng gật đầu đồng ý, đã nói rõ rồi là không ai được làm chuyện lợi mình hại người đâu đấy. “Anh nghe kìa, tiếng gì vậy?” Vương Lỗi bỗng chau mày vểnh tai nghe! Hắn không nói tôi cũng nghe thấy âm thanh đó, âm thanh như thực như hư, hình như có người đang khóc, nghe lại như có ai đang hát. Bạn có thể cảm nhận được sự tồn tại của nó, nhưng bạn định thần để nghe kỹ thì âm thanh đó lại như tan biến vào không gian… khiến bạn không thể nào phân biệt đó là tiếng gì… Tôi đứng dậy đi đến bên cửa sổ, âm thanh đó hình như nghe rõ hơn dưới ánh trăng. Bỗng mắt tôi như căng lên, tôi dường như không tin vào mắt mình nữa, cô bé vừa rồi mở cửa cho chúng tôi đang ngồi dưới ánh trăng cầm chiếc lọ NGŨ LIÊN thì thầm điều gì như đang nói chuyện với chiếc lọ vậy. Không nghe rõ nó nói gì nhưng trông rất rõ dáng vẻ của nó, nó nói chuyện và đối đãi với chiếc bình như là trong đó có người vậy. Âm thanh lúc thực lúc hư vừa rồi đích xác là do cô bé nói. “Cô bé này làm cái quái gì thế nhỉ?” . Tôi hỏi mình với tâm trạng đầy nghi ngờ. Hai cậu bạn kia chạy đến cửa sổ, lúc đó, cả gã mặt đen cũng đến bên cô bé kia. Hắn lặng lẽ ngồi sau lưng nó, một lúc lâu mới đến gần vỗ vai nó. Cô bé ngúng nguẩy đẩy tay gã mặt đen ra, hình như họ giận nhau điều gì. Gã mặt đen trầm ngâm một hồi, không vỗ vai cô bé nữa, quay mình trở lại phòng. “Các cậu đã trông thấy rõ ràng cả rồi chứ?” Cửa phòng chúng tôi tự nhiên mở toang ra, gã mặt đen không biết đến cửa phòng từ lúc nào, mặt gã ủ rũ nhìn chúng tôi bảo: “Các cậu cứ ngủ đi, trời sắp sáng rồi đó, ngày mai các cậu còn phải đi một chặng đường dài nữa đó”. “Cô bé kia là ai? Có phải con gái anh không? Hình như nó đang giận anh thì phải”. Vương Lỗi cười hỏi bắt chuyện. “Nó là con gái tôi, người trong làng đều gọi nó là Tiểu Cúc. Ba năm trước, mẹ nó lên núi hái thuốc, bị ngã chết, sau cú sốc nặng nề đó, tâm lý nó đã thay đổi hẳn, nó không thèm nói chuyện với ai nữa, trừ chiếc lọ đựng hồn kia”. Gã mặt đen đáp. “Có phải vì thế mà anh không chịu bán chiếc lọ đó cho chúng tôi?” Tôi hỏi. Gã mặt đen gật đầu đáp: “Tiểu Cúc suốt ngày mê mẩn chiếc lọ đó, nên tôi cứ đi đâu thì thường mang theo chiếc lọ, như thế thì Tiểu Cúc mới chơi đùa như những đứa trẻ khác. Nhưng hễ cứ thấy chiếc lọ, nó liền nói chuyện với linh hồn mẹ nó, làm như thể có người trong đó mà chỉ nó mới nhìn thấy.” Gã mặt đen nói với giọng sa sầm, mới nghe tôi đã sởn hết cả gai ốc, bên kia, hai anh em cũng không hề động đậy. Gã mặt đen do dự chốc lát, hình như hắn đang nghĩ điều đó, nhưng hắn không nói gì thêm, quay đầu đi thẳng. Hai tên kia ngồi trên giường, lưng tựa vào vách, chốc chốc lại ngáy khò khò. Tôi cũng buồn ngủ không kém nhưng không thể nào ngủ được. Không biết bao lâu sau tôi mới nhổm dậy tìm thuốc hút, vô tình đến bên cửa sổ, không thấy cô bé ngoài kia nữa, chỉ còn chiếc lọ nằm ngoài sân. Tôi thoáng nghĩ, có chút căng thẳng và ngoái đầu lại nhìn hai tên kia, một tên ngủ chảy cả nước dãi, tên còn lại cứ chép chép mồm liên tục, chắc hắn mơ đang ăn thứ gì đó! Tôi khẽ khàng mở cửa, nhẹ như con mèo rình mồi, lách ra khỏi cửa, cúi xuống nhặt chiếc lọ lên. Nhịp tim tôi bỗng tăng nhanh, nhưng hơi thở có lúc như ngừng lại. Cầm chiếc lọ đựng hồn trong tay, kinh nghiệm bản thân cho biết chắc chắn đó là chiếc bình cổ, nhưng tạm thời tôi vẫn chưa xác định được niên đại của nó. Tôi lật đi lật lại xem từng chi tiết trên chiếc bình, quên cả đề phòng có hai bóng người từ từ đi đến. Tôi đột ngột phát hiện liền quay người định lẩn đi. Bỗng khắp mình lạnh toát, tôi không thể đứng vững được nữa, cả chiếc lọ trong tay cũng rơi xuống đất từ lúc nào không hay. Sau lưng tôi có hai người nữ, cô nhỏ là Tiểu Cúc, còn bên cô bé là một phụ nữ trung niên, mái tóc rất dài, rối tung như tơ vò phủ lên chiếc hộp sọ, mình mặc chiếc áo dài đỏ, trong chiếc làn trên tay bà ta hình như có nước, không phải! Không biết thứ gì nhưng đó là một chất lỏng màu đỏ thẫm đang rỉ từng giọt xuống nền đất. Người phụ nữ trung niên đó cầm tay cô bé, hai người hình như rất thân thiện với nhau. Cả hai đều đứng sau lưng tôi, sắc mặt không có chút biểu lộ gì cả, giống như hai pho tượng. Bỗng tôi nghe cô bé gọi hai tiếng, đầu tôi như vỡ ra. Quả thực tôi nghe cô bé gọi “ma ma”. Người phụ nữ đó nắm chặt tay cô bé, cô bé mặc chiếc váy trắng, bỗng chốc dính đầy máu đỏ, lúc đó không nghi ngờ gì nữa, chắc chắn trên mình người phụ nữ trung niên kia đang chảy máu. Đầu tôi cứ kêu lên ong ong, trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, tôi đã bị sốc - không ai có thể chịu đựng sự kích thích như thế - nửa đêm canh ba bỗng xuất hiện trước mặt một thi thể phụ nữ đầy máu, hơn nữa người phụ nữ đó lại là mẹ cô bé kia! Nhớ lại lúc nãy gã mặt đen bảo, ba tháng trước, vợ hắn đã chết vì bị ngã khi lên núi hái thuốc. Sau đó, cô bé chỉ nói chuyện với chiếc bình, nó xác định là mẹ nó đang ở trong chiếc bình kia. Không biết thực hay mơ, tôi cũng không xác định được liệu gã mặt đen kia có nói thật với tôi về chuyện này hay không. Nhưng quả thực đây là một pha sốc lớn nhất trong đời tôi. Khi chưa xác định được hư thực thế nào thì dù sao sự xuất hiện của phụ nữ nhuốm máu đó cũng làm tôi khiếp hãi đến vỡ mật. Chiếc áo dấy máu đó chắc phải nhuộm máu mới như thế. Nếu là máu thực thì từ đâu ra? Sao phải làm thế? Tôi không đủ can đảm để suy luận việc này, nhưng trong lúc sợ hãi đến tột đỉnh người ta thường có những phản ứng mà chính bản thân mình cũng không biết. Đối diện với hai người kỳ lạ đó, tôi đã có một quyết định mà tôi nghĩ mười người thì hết mười một người sẽ làm như tôi, đó là tháo chạy như điên theo những con đường nhỏ trong làng. Ký ức cuối cùng là tôi đã ngã lăn nhào, đầu bị đập xuống đất, sau đó tôi không còn nhớ gì nữa. Ánh mặt trời buổi sáng chiếu lên mặt làm chói mắt khiến tôi tỉnh dậy. Tôi đưa tay lên làm gối, rồi từ từ ngồi dậy. Đầu đau như búa bổ, ký ức hôm qua từ từ tua lại trong đầu bỗng thấy sợ - cô gái nói chuyện với chiếc lọ rồi chuyện người người phụ nữ xuất hiện với áo quần be bét máu… Nhớ lại chuyện hôm qua, tôi cho đó chỉ là một cơn ác mộng, không có gì phải sợ nữa, vì nó chỉ là hư ảo. Nhưng nếu đó không phải là chuyện thực thì tại sao bây giờ tôi lại đang nằm trên ruộng lúa? Tôi còn nhớ rõ là mình đã tháo chạy như ma đuổi, cứ hết con đường nhỏ này lại ngoặt sang con đường khác, không còn biết lựa đường mà chạy nữa, cuối cùng tôi đã ngã xuống bất tỉnh, nếu không có hai mẹ con nhà kia xuất hiện thì tại sao tôi phải chạy? Ngôi làng nằm cuối ruộng lúa, chỉ cần tôi về nhà hỏi gã mặt đen thì mọi chuyện sẽ rõ. Còn nữa, hai gã Vương Lỗi và Đàm Xuyên tối hôm qua cũng ngủ trong nhà hắn, không biết giờ đã ra sao rồi. Chắc là chúng đã đi quanh làng để truy lùng cổ vật. Bất luận thế nào, trước tiên phải quay về làng đã. Tôi đứng dậy bước đi, đôi chân còn nhức mỏi, không biết đêm qua thế nào mà hai cánh tay cứng đơ không cử động được, đi một lát dưới ánh bình minh mới phục hồi trở lại. Lúc đó, tôi đã đến cổng làng. Trong làng vẫn im ắng, không có chút động tĩnh gì. Bỗng tôi có một cảm giác kỳ quái - trong ngôi làng này giờ không có người nào, ngoài tôi ra! Tôi ngẩng đầu nhìn mặt trời chói lóa, điều an ủi tôi duy nhất lúc này là hãy nghĩ rằng, tất cả mọi chuyện đã xảy ra chỉ là ảo giác. Tối qua, tôi còn ở trong làng này, gã mặt đen và cô con gái của hắn nữa cơ mà, còn có cả người vợ đã chết rồi của hắn! Sao nay lại chẳng thấy bóng ma nào thế? Để xua đi nỗi bất an trong lòng, tôi tiếp tục tiến vào trong làng. Trong làng yên tĩnh đến lạ thường, trên con đường, không những tôi chẳng thấy ma nào mà ngay cả nhà cửa vẫn như hôm qua, vẫn đóng im ỉm. Để tự xoa dịu mình, tôi nghĩ, người trong làng này đóng chặt cửa lại là để thăm dò người lạ mặt đến từ xứ khác là tôi. Nhưng sự im lặng quá mức đó khiến tôi có cảm giác như đang nằm mơ giữa ban ngày. Men theo con đường làng nhỏ hẹp, cuối cùng cũng tìm đến được ngôi nhà mà hôm qua tôi đã dừng chân, vừa đến nhà, tôi đã nhìn thấy chiếc bình NGŨ LIÊN đang nằm nghiêng ngửa trước cửa nhà cách tôi không xa. Hình như từ khi tôi đánh rơi nó tối qua đến giờ vẫn chưa ai đụng vào! Tôi vội chạy đến nhặt chiếc bình lên, cũng chính vì chiếc bình quỷ quái này mà tôi đến ngôi làng này, nay tôi mới hối hận, nếu có thể, tôi bằng lòng từ giã ngôi làng này ngay lập tức, đương nhiên, tốt nhất là cuỗm theo luôn chiếc bình này! Tôi gõ cửa, vừa đẩy cửa đã mở ra, tôi do dự một lát rồi vẫn cứ vào nhà. Mỗi căn phòng tôi đều tìm một lượt nhưng không thấy người nào. Căn phòng mà tối qua tôi và hai gã đồng nghiệp đã xin tá túc cũng nguyên xi như cũ, hai gã kia cũng không thấy đâu, tôi nghi rằng chúng đã bị gã mặt đen đuổi đi. Ra khỏi nhà gã mặt đen, lòng tôi bỗng thấy nặng nề, một dự cảm báo cho biết sẽ có chuyện không hay xảy ra đến với tôi. Người trong làng này đi đâu cả rồi nhỉ? Tôi tự hỏi. Tôi lẹ rảo bước sang nhà khác, đẩy cửa, quả nhiên không nhà nào đóng cửa, mới đẩy nhẹ cửa đã mở toang ra. Tôi đi vào như vào nhà mình, tìm khắp, chẳng thấy có ma nào! Vừa giận vừa sợ, tôi tháo chạy, lại tìm đến nhà khác. Cứ thế tiêu mất của tôi hơn giờ đồng hồ, cuối cùng tôi ngã gục trên một ruộng lúa ngay ở giữa của ngôi làng này. Ngôi làng khá nhỏ, chỉ khoảng vài chục hộ dân, hầu như nhà nào tôi cũng tìm một lượt, nhưng nhà nào cũng không thấy một bóng người. Cả ngôi làng, trừ tôi ra, không thể tìm thấy một bóng người nào khác. Chẳng lẽ người trong làng này đều chết hết cả rồi sao, mới chỉ nghĩ như thế tôi đã rùng mình! Vương Lỗi và Đàm Xuyên đâu? Tối qua họ đã gặp những chuyện quỷ quái gì? Giờ họ có bình an không? Bất chợt tôi nhảy dựng lên, chạy đến cổng làng, ngôi làng này quả thực quá quái quỷ, không thể ở lâu trong ngôi làng này được. Giờ thì tôi đã tìm thấy cái mà tôi cần tìm, tốt nhất là nên chạy đi, càng xa càng nhanh càng tốt. Hơn nữa, bây giờ là mười hai giờ trưa, nếu thuận lợi, thì tôi sẽ đến được thị trấn trước khi trời tối. Rời xa ngôi làng này ngay, ngôi làng quái quỷ này không còn quan hệ gì với tôi nữa. Trước khi đi, tôi còn mang theo cả chiếc bình đựng hồn người kia nữa. Có nó trong tay, chuyến đi này xem như đã thành công mỹ mãn. Rời làng, phải băng qua cánh đồng lau sậy, khi đến tôi đã đi theo con đường này. Nhưng còn cách cánh đồng khoảng hơn mười mét, tôi dừng lại. Trước mặt, bên ruộng lúa, có một người đứng sẵn, trên đầu đội mặt nạ to đùng, chiếc mặt nạ có hình thù trừu tượng, kỳ quái, nhưng cũng có thể hình dung ra đó là hình thù của một con dê. Trên mình mặc chiếc áo choàng trắng, hai tay duỗi thẳng, hai chân rời đất khoảng một thước. Không ai có thể đứng cách mặt đất, trừ phi đó là người nộm bằng cỏ. Quả đúng không sai, người đứng trước mắt tôi là một hình nộm bằng rơm, tối qua, khi đến làng này tôi đã có nhìn thấy. Chỉ có điều không biết tại sao hôm nay nó lại nằm ngay trên đường đi. Tôi nhìn quanh, ruộng lúa mênh mông không thấy bờ, đằng xa tít bên kia hình như cũng có hai người nộm bằng rơm nữa. Tôi cẩn thận đi lên, rồi từ từ rảo quanh người nộm, đang định đi tiếp thì bỗng sau lưng có gì đang cử động, hình như còn có cả tiếng dế trong chiếc hình nộm đó nữa. Quay đầu nhìn lại, tôi chỉ thấy bóng hình người nộm! Kỳ quái! Nhìn xuống chân người nộm, tôi thấy có một chiếc gậy gỗ, chiếc gậy đang rỉ máu xuống. Tôi giật thót, người như khựng lại, định thần nhìn kỹ, quả nhiên không sai, người nộm bằng rơm đang chảy máu! Người nộm gắn chặt trên chữ thập, lúc đó, máu từ chân người nộm chảy tràn ra cả mặt đất, khắp một mảng đất rộng bị máu thấm ướt, vì màu đất tối nên vừa rồi tôi không để ý. Tôi nghe tiếng thở hổn hển của mình, đôi chân cũng đang run lên bần bật. Tôi có thể rời ngôi làng này cho dù người nộm đó có chảy nhiều máu hơn nữa, nhưng tôi vẫn còn hiếu kỳ, tôi biết, đó chỉ là máu giả do người khác tạo ra, vậy đằng sau người nộm đó chắc chắn phải có người thật đang ẩn mình. Hắn là ai? Tính mạng hắn đang ngàn cân treo sợi tóc, thế ai đã buộc người thật làm giả thành người nộm? Tôi lẩm bẩm, từ từ tiến lại gần người nộm kia, đôi tay run run đưa lên lấy chiếc mặt nạ kia xuống. Đó là tên đầu trọc Vương Lỗi. Hắn vẫn còn sống nhưng không sao cử động được, đôi mắt hắn mở to nhưng có vẻ đã mất hết sức sống, môi mấp máy, hình như hắn muốn nói với tôi điều gì, nhưng hắn yếu đến nỗi không nói thành lời. Nỗi kinh ngạc lúc đầu đã qua, nhưng điều mà tôi lo lắng đã trở thành hiện thực. Nếu không gặp Vương Lỗi thì tất cả những hiện tượng quái dị, đằng sau nó ẩn chứa điều gì bí mật đều chỉ được trả lời bằng suy đoán của tôi. Nay, chúng đã lộ nguyên hình. Ngôi làng ẩn mình sau rừng sâu núi thẳm này quả nhiên là cạm bẫy đầy nguy hiểm, chết chóc. Tôi từ từ cởi trói cho Vương Lỗi, sau khi hắn nằm xuống đất, tôi mở nốt chiếc áo choàng cho hắn, trên tay chân hắn, mỗi nơi đều có vết dao, máu tươi chính là máu thực chảy ra từ người hắn. Vương Lỗi không nói được lời nào, nhưng đôi mắt ứa lệ, trên khuôn mặt đầy nỗi khiếp hãi và có chút hy vọng gì đó. Tôi biết hắn sợ tôi bỏ rơi hắn, hy vọng tôi có thể mang hắn trốn khỏi ngôi làng này. Nhưng lúc này nếu cứ ở lại đây càng lâu thì càng nguy hiểm, hơn nữa, tôi không biết kẻ nào đã hại hắn ra nông nỗi này. Nên lựa chọn tốt nhất bây giờ của tôi là bỏ rơi hắn, một mình trốn đi, còn nếu cứ cố mang theo một người đã kiệt hết sức, lúc gặp chuyện không những không bảo vệ được hắn mà ngay bản thân cũng khó vẹn toàn. Tôi phải chọn nhanh một trong hai quyết định, cuối cùng tôi thở dài than vãn rồi cõng Vương Lỗi lên chạy. Hôm qua, cả hắn cùng Đàm Xuyên ở với nhau, không biết tối hôm qua họ gặp phải chuyện gì mà Vương Lỗi đến nước này, từ đó đoán chắc rằng tình cảnh của Đàm Xuyên cũng chẳng hơn gì đâu! Nếu kẻ hãm hại Đàm Xuyên và Vương Lỗi rắp tâm sắp đặt như thế này, thì hắn khó lòng để tôi toàn mạng mà về được. Lúc này, e rằng chúng đang rình theo tôi rồi cũng nên, nếu tôi cứ tiếp tục đi trong ruộng lúa thì không biết mối hiểm họa chết người sẽ chờ tôi ở điểm nào đây! Đương nhiên tôi cũng không thể để chúng muốn làm gì thì làm mà không chống cự, trong tôi cũng đang có một bí mật, không đến lúc dầu sôi lửa bỏng thì tôi quyết không để người khác biết được. Cho nên, tôi quyết định trở lại ngôi làng kia, điều tra rõ tất cả mọi chuyện, xem thử chuyến này có hy vọng nào không để cứu Đàm Xuyên - người hiện nay đang không biết thất lạc ở đâu. Chính vào lúc đó, tôi bỗng bị một cú đánh mạnh vào đầu, trời xoay đất chuyển, cả thế giới như quay tròn... tôi ngất đi, Vương Lỗi trên lưng tôi cũng ngã lăn nhào theo. Trong mê loạn, tôi thấy tên Vương Lỗi vốn đang nằm yên bỗng cử động, rồi hắn vùng dậy ngồi, trong mơ hồ, tôi thấy khuôn mặt hắn hung tợn kinh khủng! “Anh ạ, xin lỗi nhé, chúng bảo nếu không đánh ngã anh thì chúng sẽ không buông tha cho em”. Hắn nói. Tôi hoàn toàn tuyệt vọng, nghĩ rằng đời mình sẽ kết thúc tại đây. Nghĩ rồi tôi rơi vào hôn mê bất tỉnh. Trong cơn mê, tôi mơ hồ cảm thấy hình như có rất nhiều người xuất hiện, tay chân tôi bị buộc chặt, treo ngang trên một chiếc đòn, hai bên có hai người khiêng, mình tôi lắc lư theo nhịp chân họ. Lắc lư mãi rồi tôi tỉnh lại, cố mở to mắt nhìn qua kẽ hở, chỉ nhìn thấy người đang khiêng sau tôi, hắn mặc chiếc áo choàng màu đen, trên mặt đeo chiếc mặt nạ hình đầu trâu. Lúc đó tay chân tôi đã bị buộc chặt vào đòn khiêng, giống hệt như con lợn béo đang chở đi mổ thịt! Tôi không dám cử động gì, cứ giả vờ đang ngất. Cứ thế họ khiêng tôi đi khoảng hai mươi phút. Lúc dừng lại, tôi bị họ thả rơi tõm xuống đất, tôi nheo mắt lại nhìn, bốn bề là đồng lúa xanh rờn, còn có rất nhiều bàn chân, có chân để trần, có chân còn tục bó chân, không cần nhìn mặt họ tôi cũng biết đó là dân chúng trong làng, lúc sáng, tôi ngạc nhiên tại sao trong làng không có ai, hóa ra họ đều đến tụ tập ở đây. Đây là đâu? Tôi cố giương to đôi mắt, nhanh chóng phát hiện ra đây là vùng trung tâm của đồng ruộng, tức là tôi đang nằm trong cánh đồng mênh mông đó. Quả nhiên trong cánh đồng có một vùng đất khá rộng. Những người sống bằng nghề trồng hoa màu, họ quý đất hơn quý mạng sống của mình, tại sao họ lại chừa ra một khoảng trống lớn như thế giữa đồng được? Tôi vẫn giả vờ hôn mê bất tỉnh, một gáo nước tạt vào mặt tôi, nếu không mở mắt, quả thực tôi không thể chịu nổi cái cách họ làm để tôi tỉnh lại này. Tôi từ từ đứng dậy, như thế tôi mới thấy rõ hơn. Lúc đó, tôi phát hiện vùng trống trong ruộng lúa có hình tròn, xung quanh treo đầy cung tên, dân làng trai có gái có, trẻ có già có đứng đông nghịt, tay chân da thịt thô ráp đen trũi. Ở trung tâm của khoảng đất trống đó đặt một tảng đá lớn, cao ngất như một ngôi nhà hai tầng, trông hệt như một trái núi nhỏ. Tôi nghĩ bụng, có lẽ việc dân làng chừa lại khoảng đất này có liên quan đến tảng đá, bởi vì trên tảng đá đó tôi thấy có hình vẽ quen quen. Dưới hình mặt người được vẽ cách điệu có hai đường vẽ, phần cuối đường vẽ có hình tam giác ngược, trên mặt nó có nhiều cây cỏ rậm rạp. Lần đầu tiên tôi thấy hình vẽ này trên chiếc bình Ngũ Liên của gã mặt đen. Trước tảng đá có ba chiếc giá hình chữ thập, trong đó có một chiếc đang trói một người, chính là Đàm Xuyên. Lúc đó tôi hãi quá hình như không giữ được tỉnh táo nữa. Hắn bị trói trần trên giá, chỉ chừa lại chiếc quần nhỏ sát người, hai tay bị trói dang ra theo cọc ngang trên cái giá chữ thập, thoạt nhìn giống như chúa Giê-su bị nạn. Trong khi bị trói, cả hai tay hai chân gã cũng bị như Vương Lỗi, đều bị đâm thủng mấy vết, máu tươi đang từ từ rỏ xuống. Trên một trong hai cái giá còn lại, dân làng đang treo tên Vương Lỗi lên, một lúc sau cả hai tên Vương Lỗi và Đàm Xuyên đều bị trói chặt cứng hệt như nhau, chỉ khác nhau một điều là cái đầu trọc của Vương Lỗi bóng như tấm kính dưới ánh mặt trời. Cả hai tên này bị trói hai bên, cách trói giống hệt nhau, trông giống như hai con chó bị chọc tiết rồi trói lên! Giữa hai chiếc giá còn một cái để không, không cần nói cũng biết chắc đó là chiếc giá chuẩn bị trói tôi. Tôi biết, một khi đã bị trói như hai tên kia có nghĩa là tôi sẽ hết cơ hội. Lúc đó, từ phía bên ngoài vòng vây đang vây tròn quanh chúng tôi đi đến ba người mà tôi đã biết, đó là gã mặt đen, con gái hắn và vợ hắn. Cách ăn mặc của họ không giống với cách ăn mặc của dân trong làng, gã mặt đen mang chiếc tay nải màu đen, hai người còn lại để tóc xõa bù xù xuống chiếc áo choàng trắng, hai màu đen tóc áo trắng đối nhau chan chát. Gã mặt đen lại gần tôi, vợ hắn cũng theo sát sau chồng. “Rốt cục các người muốn làm gì chúng tôi đây?” Tôi gào to. Gã mặt đen nhìn tôi với vẻ tiếc nuối: “Tôi đã nói rồi, việc gì anh phải khổ sở theo chúng tôi?” Tôi định nói tiếp, gã mặt đen liền vẫy vẫy tay, lập tức có hai tên mang mặt nạ tiến đến, mang tôi trói lên chiếc giá nằm giữa. Lúc đó, tôi định thần bất động, tập trung hết sức lên hai cánh tay. Dân làng đang chuẩn bị trói tôi lên chiếc giá ở giữa, trước hết họ phải gỡ dây trói rồi mới buộc lên, tôi chờ đợi cơ hội này. Khi họ dang hai tay tôi ra, tôi đột ngột tung tay lên, đẩy hai tên mang mặt nạ đang khiêng tôi sang hai bên. Lúc đó, đám người vây xem nhốn nháo cả lên, mấy tên đeo mặt nạ khác đồng loạt nhảy vồ vào tôi, đột nhiên tôi hô to lên: “Khoan, hãy đợi đã”. Gã mặt đen không có biểu hiện gì, hắn vẫy vẫy tay, những người có mang mặt nạ cứ tiến lên vây tròn lấy tôi, không đánh nữa. “Các người đông như thế, thì tôi có cánh cũng khó mà bay được, vậy tại sao các người không cho tôi hoàn thành tâm nguyện cuối cùng?” Tôi nói với gã mặt đen. Gã mặt đen trầm ngâm một hồi, cuối cùng hắn cũng gật đầu đồng ý. “Mày muốn gì cứ nói đi”. “Tại sao chúng mày muốn trói bọn tao lên cái giá đó? Có phải bọn mày đang tiến hành nghi lễ gì đó không?” “Mày đã biết sao còn hỏi? Dân làng tao sống bằng nghề trồng trọt, đất đai cho chúng tao sự sống, che chở chúng tao, chúng tao sinh sống trên đất, nên cứ mỗi năm vào mùa hè tức là trước vụ thu hoạch mùa thu, người dân ở đây phải tiến hành nghi lễ tế thần như thế này đây”. “Hiện nay, rất nhiều vùng đất vẫn còn tập tục này, nhưng tại sao các người nhất định phải trói bọn ta lên giá đó mới được?” Hắn trầm ngâm hồi lâu rồi đáp: “Các người là vật hy sinh, là cúng phẩm của bọn ta cho thần nông”. Tôi đã đoán trước được điều này, nhưng nghe tên này khẳng định lại thế tôi vẫn thấy rùng mình, mất hết cả hy vọng. Hắn tiếp: “Các người đã nhìn thấy hình vẽ trên tảng đá đó, đó chính là vị thần nông mà chúng tôi tôn thờ. Người cũng như thần thánh, đều sống nhờ vào đất, nên vật hy sinh làm cống phẩm của chúng tôi sẽ phải là sự trở lại vào lòng đất mẹ của các ngươi”. Lúc này tôi mới biết hàm nghĩa của những hình vẽ đó, hóa ra ý nghĩa của nó muốn nói là sự hồi sinh từ lòng đất. “Ngày tế thần nông mỗi năm là ngày lễ quan trọng nhất, bọn tao tin chắc rằng khi nào lấy người sống làm vật phẩm tế lễ, dùng máu tươi của người sống để tưới lên mặt đất, lấy thi thể người làm phân bón thì khi đó mới bảo đảm cho vụ gặt hái thành công trong mùa thu”. Nghe hắn nói, tôi thấy quen quen, hình như tôi đã nghe câu chuyện tế lễ thần nông trong truyền thuyết. Nghe hắn nói, tôi thấy chẳng lạnh mà người cứ run. Tôi tưởng tượng khi máu tươi chúng tôi tưới đỏ lên ruộng, thi thể chúng tôi làm phân bón cho lúa, thi thể từ từ rữa nát dưới gốc mạ non, nông dân trong vùng sẽ bận rộn bên xác chết chúng tôi để khẩn cầu thần nông ban ân mưa thuận gió hòa mùa màng bội thu. Hóa ra đó là tất cả bí mật của ngôi làng này! “Mày đã hiểu rõ chưa hả?” Gã mặt đen hỏi “Tao còn muốn biết một điều nữa”. Tôi hít hơi thật sâu, trong giọng nói đã nghe thấy sự bi thương. “Cống phẩm làm vật hy sinh cho bọn ngươi dâng lên thần nông là bọn tao, nhưng bọn tao là người vùng khác đến, thế thì có ý nghĩa gì nữa đâu?” “Bọn tao không chủ ý tìm bất kỳ ai ra làm tế phẩm cả, cũng giống như các ngươi”. Gã mặt đen kia bảo: “Vì trong lòng các ngươi có tham niệm, cho nên bọn tao đã lợi dụng điểm này để dụ bọn mày đến đây”. “Vậy chiếc bình đựng hồn kia là mồi?” “Đúng vậy, khi mày mua nấm khô của tao, tao đã biết cái mà mày mua là cái bình Ngũ Liên này chứ không phải là nấm khô. Chiếc bình này nếu mang ra các thành phố lớn sẽ đổi được rất nhiều tiền, để chiếm được nó bọn mày mới tìm đến làng bọn tao, cuối cùng bọn mày phải trả cái giá này”. Hắn quay đầu lại chỉ hai tên Vương Lỗi và Đàm Xuyên bảo: “Hai tên kia cũng như mày, vì kiếm tiền, vì phát tài mà bất chấp tất cả”. Ánh mắt gã mặt đen hướng về phía chiếc bình, gã nói: “Thực ra, chiếc bình đựng hồn người này là pháp khí quan trọng nhất trong buổi tế lễ này, nó được dùng để đựng hồn người chết trong các buổi tế lễ thần nông, sao tao có thể dễ dàng bán cho chúng mày được?” Tôi thầm than trách, lòng tham là cội nguồn của mọi tội lỗi, nhưng đồng thời nó là khởi điểm của sự sống, không ngờ rằng, chiếc bình đựng hồn người là sự đeo đuổi và cũng là vật hấp dẫn đưa đường chỉ lối chúng tôi đến đây, nhưng cuối cùng chúng tôi lại phải chết vì cái bình đó, hơn nữa linh hồn chúng tôi sẽ bị nhốt trong cái bình kia, quả thực là một sự mỉa mai! Tôi liếc nhìn hai người nữ sau lưng gã mặt đen, lắc đầu nói: “Tối hôm qua mày nói với bọn tao, con gái mày chỉ biết nói chuyện với chiếc bình kia, vì nó tin chắc rằng, mẹ nó đang sống trong chiếc bình kia, hóa ra tất cả điều bọn mày nói đều là lừa dối, láo toét!” Gã mặt đen cũng nhìn theo ánh mắt tôi, nhìn theo hai mẹ con - vợ và con gái của mình, bỗng ánh mắt hắn hình như hiền dịu gần gũi hơn. “Tục lệ trong bộ lạc bọn tao quy định, vật hy sinh để tế lễ trong ngày giỗ hàng năm phải là người ngoài làng, mỗi nhà có nhiệm vụ đi tìm người để tế, cứ hết nhà này đến nhà khác luân phiên thay nhau tìm. Năm nay đến lượt nhà tao phải tìm cho ra vài người. Nhất định tao phải để cho vợ và con gái tao có việc mà làm nên tao đã bịa chuyện để lừa bọn mày. Nếu không vì việc đó làm sao mày bỏ trốn? Phải biết rằng, chúng tao không thèm để ý đến bọn ngoài làng như bọn mày, nhưng một lúc để tao ứng phó với cả ba người chúng mày quả là chuyện không dễ”. Gã mặt đen thở dài rồi nói: “Được rồi! Đã sắp đến giờ rồi, tao nghĩ mày đã hiểu rõ nguyên nhân, chắc chắn chết cũng không hối hận!” Hắn vẫy tay, hai gã đeo mặt nạ thủ thế lao đến. “Khoan đã, khoan đã!” Tôi lại la lớn lần nữa: “Tao có câu hỏi cuối cùng, bây giờ tao chưa muốn chết, cũng không muốn trở thành vật hy sinh cho chúng mày, nên bọn mày không thể trói tao được”. Gã mặt đen nhìn tôi với thái độ khó hiểu, hình như hắn không hiểu tại sao tôi lại nói thế, hắn cho rằng tôi là một người rất kỳ quái. “Chẳng lẽ mày nghĩ rằng mày còn có lựa chọn nào khác?” “Đương nhiên”. Tôi giương mắt lên cười như điên, bỗng nhiên trong tay tôi có thêm một khẩu súng. “Quả không sai chút nào, tao đã lừa bọn mày, tao không phải là người buôn đồ cổ, tao là cảnh sát. Mùa hè năm ngoái, tao nhận được điện của người bạn, chính người bạn gọi điện cho tao mới là người buôn đồ cổ, nó xây nhà được là vì nó đã mua được chiếc bát cổ khi vào ăn phở trong quán lá ở một huyện lỵ nhỏ rồi mua nốt chiếc bát cổ mà ông chủ quán đựng thức ăn cho hắn, ông chủ quán không ngờ chiếc bát mà hắn mua là cái bát cổ được làm từ thời Nguyên. Lần điện thoại đó, hắn gọi và bảo tao hắn đang ở trong thị trấn nhỏ của một huyện vùng Tây Nam Trung Quốc. Hắn bảo chiếc bát đó hắn gạ mua nhưng ông chủ nhất định không bán nên bạn tao mới đi theo hắn, vì người bạn đó của tao nghĩ rằng, nếu đến quê của người chủ chắc chắn sẽ có thu hoạch... Sau cuộc điện thoại đó, hắn bặt vô âm tín. Nếu người bạn kia của tao cũng là người bình thường thì tao việc gì phải lặn lội đường sá xa xôi để đến vùng hẻo lánh chết tiệt này làm gì. Tao với hắn không những là đồng nghiệp mà hắn còn giới thiệu em gái hắn cho tao nữa. Nghiêm túc mà nói, hắn còn là anh vợ của tao nữa. Bất luận là về cả công chuyện riêng tao cũng phải có nhiệm vụ đến đây. Đương nhiên trước khi đến đây tao đã chuẩn bị chu đáo cả rồi. Trước khi đến, tao còn tìm hiểu tập tục của người dân ở đây với một giáo sư dân tộc học đức cao vọng trọng, tao không quên hỏi những vấn đề có liên quan đến chiếc bình đựng hồn người Ngũ Liên kia cũng như ý nghĩa những hình vẽ trên đó. Người bạn mất tích của tao đó còn nói cho tao biết về hình dáng của chiếc bình Ngũ Liên và những gì có liên quan. Sau khi tra kỹ về ý nghĩa các hoa văn trang trí trên chiếc bình, ông giáo sư mới giảng giải cho tao, thực ra đó là tôtem của một nhóm người vùng xa vùng sâu, nó biểu thị ý nghĩa đất là cội nguồn của con người. Nhưng ngay vị giáo sư dân tộc học đó cũng không biết nghi thức tế lễ phải dùng người để tế sống quỷ thần. Thế là tao đến ngay ngôi làng chúng mày, nơi thằng bạn tao mất tích. Trong phiên chợ hôm nọ tao nghe mày có nói về chiếc bình đựng hồn người này... Tao cũng như bạn tao, cũng theo chúng mày về đến tận làng chúng mày. Nay chân tướng sự việc đã bại lộ, người bạn đồng nghiệp của tao đã làm vật hy sinh cúng quỷ thần cho bọn mày, máu tươi đã tưới đất này, xương thịt cũng làm phân cho đất này. Công việc mà tao phải làm bây giờ là phơi bày chân tướng của bí mật này.” Dân làng ở đây không phải là bọn man di độc địa, họ làm việc đó chẳng qua là do tập tục người xưa truyền lại mà thôi, hơn nữa, suốt cuộc đời họ sống trên mảnh đất này, nên tất cả những gì có liên quan đến vùng đất họ sống đều tin tưởng khắc cốt ghi tâm, không bao giờ hoài nghi những gì người xưa để lại. Chính vì thế mà khi tôi bắn phát súng lên trời cảnh cáo, những người dân làng đã sợ đến ngẩn người, đại đa số dân chúng trong làng đã quỳ xuống trong vô ý thức. Nhưng gã mặt đen và mấy tên mang mặt nạ vẫn vây lấy tôi. Trong tình hình đó, nếu tôi muốn vượt vòng vây mà không gây thương tổn cho người xung quanh là điều không thể, hơn nữa gã mặt đen là người tấn công đầu tiên vào tôi. Một tiếng súng nữa, gã mặt đen ôm ngực, lảo đảo bước lên trước mấy bước rồi gục xuống. Mấy tên đeo mặt nạ kinh hoảng, từng đứa một tản ra hai bên, tôi lợi dụng bọn chúng trong lúc giãn ra để hở một lối nhỏ, thế là lập tức như con sóc tôi nhảy chuồn vào ruộng lúa. Là cảnh sát, tôi không được phép để hai tên Vương Lỗi và Đàm Xuyên ở lại, nhưng tình hình khẩn cấp lúc đó, tôi không thể không làm vậy. Hơn nữa, tay chân bọn chúng đều đã bị trọng thương, không thể tự đi lại được, nếu đèo bòng thêm họ thì e tính mạng tôi cũng khó bảo đảm. Tôi đành phải để hai người bọn họ lại, một mình mình tháo chạy. Tôi vừa chạy đi, dân chúng liền đuổi theo, quả thực trong mơ tôi cũng không dám mơ thế. Trong lúc chạy tôi đã dẫm lên ruộng lúa đang chờ vụ bội thu nhờ đã cúng máu tươi... vì thế tôi có cảm giác như đang đi qua cánh đồng có màu máu tươi của người ta. May mắn, cuối cùng tôi đã thoát khỏi sự truy đuổi của dân làng, tìm vào một khu rừng rậm tạm trốn. Không được bao lâu, tôi phát hiện mình đang lâm vào một mối nguy hiểm khác - lạc đường trong rừng rậm. Tôi như con thú bị mù, cứ tháo chạy lung tung trong rừng rậm, rừng rậm quá, tôi không thể nào tìm được ra lối. Vô tình, tôi đang sống cuộc sống của người rừng, hàng ngày, ngoài việc kiếm thức ăn để sinh tồn, tôi còn phải cảnh giác những con thú của rừng núi. Tôi nghĩ, người ta sống trong các thành phố hiện đại khó có được sự thể nghiệm như tôi hiện nay. Tôi phải sống kiểu thời nguyên thủy, hàng ngày hái trái cây, bắt thú nhỏ ăn thịt sống uống máu tươi, đêm đêm lại tìm hốc cây an toàn mà ngủ. May mắn quá tôi đã tìm được ra cánh đồng lúa của dân làng này, tôi lặn lội dưới cánh đồng lúa, tìm đến những hình nộm, cởi bỏ áo mình ra, mặc chiếc áo của người nộm. Trong những hình nộm đó, bên trong đều lấy xương người thật làm giá chống. Không biết có phải là xương của hai gã buôn đồ cổ Vương Lỗi và Đàm Xuyên không nhưng tôi nghĩ bây giờ nhất định họ đã bị dân làng giết chết, máu của họ đã tưới lên ruộng này, thịt xương của họ đã rữa nát để làm phân bón cho ruộng này rồi. Sống cuộc sống như thế trong bao lâu tôi không hay biết nữa, chắc phải ra ngoài kia nơi chốn văn minh đô thị mới biết được. Một hôm, tôi leo lên đỉnh một ngọn núi, thấy có một dải dây như lụa rất dài bay theo gió, tôi lần theo thì tìm được đường cái, tôi mừng như thể người bị tù lâu ngày tự nhiên được thả khỏi lao ngục. Tôi chạy suốt cả quãng đường. Nửa tháng sau, đang trong mùa gặt vụ thu, tôi dẫn theo đội quân có trang bị vũ khí của quân đội đang đóng trong vùng lân cận đó, đến ngôi làng của những người dân lấy người sống cúng quỷ thần này. Nhưng chúng tôi đã lần mò suốt nửa tháng, thậm chí còn điều động trực thăng đi thám thính vẫn không thấy dấu vết của dân làng đó đâu cả, thế là có người nghi ngờ, họ cho rằng tôi đã báo cáo sai sự thật. Ngày 30 tháng 10, tôi và lính có trang bị vũ khí trèo lên một sườn núi, lúc đó, chúng tôi ngẩn hết người ra. Dưới chân núi là một cánh đồng lúa mênh mông, trĩu hạt làm oằn cả thân lúa. Điều làm chúng tôi vô cùng kinh ngạc đó là lúa ở đây đều có màu đỏ ối như màu máu tươi, cả một cánh đồng lúa chín màu đỏ rực... Dưới ánh trời chiều, cánh đồng mênh mông màu đỏ rực nhuộm thắm cả một góc trời. Các bản vẽ phác thảo cứ phất phới bay đầy đồng, cảnh tượng hùng vĩ trong tranh đã ghi lại tất cả quá trình quan hệ của Tần Ca và Tạ Phi. Đào Tử hiểu rằng, khi tất cả những bí mật đã được vạch trần, phơi bày ra, thì đối sách cuối cùng cũng phải bắt đầu. Nhìn thẳng vào mắt người đàn ông trước mặt, cô nói: “Trịnh Dung Tân đã chết, nếu tôi đoán không nhầm, thì tình hình của Trần Hoa bây giờ cũng không ra gì!” “Đấy là tội hắn làm hắn chịu, cũng đáng thôi!” Tạ Phi nói với giọng mãn nguyện. “Thế thì bạn đồng nghiệp của tôi và vợ cậu đâu?” Không thể giữ bình tĩnh được nữa, Đào Tử xông lên quát hỏi Tạ Phi: “Họ vô tội, cậu đã biết rõ là oán niệm trong “Bảy ngôi làng ma” rất mạnh, người bình thường sau khi vào đó, thì nguy hiểm nhiều hơn là an toàn, thế tại sao cậu còn để cho họ vào để phải liên lụy...?” Thân hình dong dỏng cao của Tạ Phi thụt lùi mấy bước, Tạ Phi bảo: “Đó là chuyện bất ngờ không may, trong khi tôi thí nghiệm giả hôn mê, họ bị người của Trần Hoa đưa vào trong hiện trường. Ai bảo bạn của cô xông vào làm gì?” “Khi bạn đồng nghiệp của tôi phát hiện anh không làm sao, anh liền lợi dụng tâm lý muốn đăng tin của cậu ấy, để cậu ấy thí nghiệm trò chơi “Bảy ngôi làng ma” đúng không?” Tạ Phi không nói lời nào vì cơ bản không biết phải nói gì. “Anh đã báo thù được cho anh trai anh rồi”. Ánh mắt Đào Tử sắc như lưỡi kiếm nhìn thẳng vào Tạ Phi, cô nói tiếp: “Nhưng cái chết của Trương Vy chính là cái giá phải trả của anh đấy”. Việc đã đến nước này, điều duy nhất mà Tạ Phi khó đối mặt đó là người vợ mới cưới của mình đang nằm trong phòng quan sát. Không muốn để cho bất kỳ ai nguyền rủa cô ấy, Tạ Phi toan nhào lên tóm lấy Đào Tử, nhưng vừa mới tiến lên một bước, anh ta đã bị té ngã bởi những đường dây truyền tải số liệu. Tạ Phi giẫy giụa theo bản năng, không ngờ đã làm một dãy giá máy sập xuống, những cỗ máy cứng nhắc đè lên hai chân anh ta khiến hai chân dập nát, máu xương lẫn lộn... Trong cơn tuyệt vọng, anh ta thấy Đào Tử đang ráng sức nhấc không đến nỗi vụng về. Tuy là thân gái, nhưng cô làm việc không hồ đồ, Tạ Phi không hiểu nên gượng lấy hơi hỏi: “Tại sao cô lại cứu tôi?” Lần này cô phóng viên trẻ tuổi này không đáp lời, cô vừa cẩn thận bê dần các cỗ máy ra, vừa nói: “Anh có biết các hacker thiên tài đã viết phần mềm vi rút, khiến cho vô số công ty phá sản, công nhân thất nghiệp, phải tự vẫn không? Và sau khi bị giam vào ngục, họ phải làm những gì không?” Thấy anh ta thất thần, Đào Tử nói: “Phải sám hối, cần phải viết lại phần mềm diệt vi rút, còn anh cũng thế, anh phải ra mà cứu vợ anh đi”. Cô vừa nói xong thì chiếc máy cuối cùng đè trên người Tạ Phi cũng được dỡ khỏi người anh ta. Lúc này Tạ Phi cảm thấy một sự khoan khoái chưa bao giờ có, chắc nó còn khoan khoái hơn khi ở trên thiên đàng, tất cả những hận thù, tất cả những đớn đau đều tan thành mây khói. Trước mắt anh ta, hình ảnh người vợ hiền thục, dịu dàng, kiều diễm hiện ra - Trương Vy. Anh ta nhất định phải cứu lấy vợ mình - Trương Vy. Khi niềm tin đã được xác định, Tạ Phi liền vùng vẫy ngồi dậy nói với Đào Tử: “Xin cô... xin cô... dẫn tôi ra khỏi nơi này”.

Ma Thổi Đèn Tập 3: Trùng Cốc Vân Nam - Chương 9: TÍN HIỆU MA


Chẳng biết tôi đã ngủ như thế bao lâu, bỗng có người khẽ lay tôi tỉnh lại. 

Tuy mệt rã rời nhưng tôi vẫn thấy có chút thấp thỏm bất an, bị đẩy một cái, liền tỉnh lại ngay. Lúc này tầng mây dày nặng đã dịch chuyển, ánh trăng lạnh đang tràn xuống đây. Người vừa đánh thức tôi là Shirley Dương. Thấy tôi mở mắt, cô lập tức đưa ngón tay trỏ lên môi, ra hiệu đừng nói to. 

Tôi nhìn xung quanh, Tuyền béo vẫn đang nằm trong túi ngủ ngủ say như chết, trên người tôi chẳng biết từ lúc nào đã được choàng một chiếc chăn mỏng. Vừa ngủ say tỉnh lại đầu óc vẫn còn lơ mơ nhưng tôi lập tức hiểu ra ngay rằng có vấn đề. 

Shirley Dương một tay lăm lăm khẩu súng ngắn 64, tay kia chỉ vào hai cây đa phu thê, rồi lại chỉ vào tai, nhắc tôi hãy lắng nghe tiếng động ở chỗ đám cây ấy. 

Tôi lập tức ngồi thẳng lên, nghiêng tai lắng nghe. Tuy tôi không có công phu Thuận phong nhĩ thính như loài chó canh đêm giống tiền bối Gà Gô, nhưng trong rừng sâu cực kỳ yên tĩnh, khoảng cách lại gần, nên nghe thấy rất rõ ràng những tiếng gõ nhè nhẹ lúc mau lúc thưa phát ra từ đó. 

Âm thanh không lớn, nhưng giữa đêm khuya khoắt, toát lên vẻ kỳ quái khó tả, không có tiết tấu gì hết, là thứ gì phát ra vậy? Chắc chắn không phải là chim gõ kiến, những âm thanh truyền ra từ bên trong thân cây, lẽ nào trong ấy có thứ gì đó? 

Nghĩ đến đây tôi không tránh khỏi có phần căng thẳng. Tương truyền rằng xung quanh mộ Hiến vương có bồi lăng 1 và hố chôn người tuẫn táng, lại còn cả những tượng người ươm "trùng dẫn" treo lộn ngược lủng lẳng kia nữa, có trời mới biết trong khu rừng già này còn có những của nợ tà dị gì nữa? 

Tôi không dám ho he, từ từ kéo quy lát chiếc "Kiếm Uy" về phía sau, rồi đeo túi xách lên người. Trong cái túi này có móng lừa đen kỵ tà trấn xác, có thừng trói thây, có gạo nếp, dù gặp tình huống gì, có mấy thứ này, cũng có thể giao đấu một trận. 

Những tiếng gõ trầm đục ấy lại vang lên lần nữa, nghe như tiếng nước rỏ giọt, lại giống như tiếng móng tay gõ vào tấm tôn, lúc khoan lúc nhặt. Tôi nhìn vào chỗ phát ra âm thanh, nhưng cành lá che phủ kín mít nên không nhìn ra gì hết. Ánh trăng lấp lóa chập chờn xen giữa lá cành, càng làm cho phía trên ấy đượm phần ma mị uy hiếp người ta. 

Shirley Dương ghé tai tôi thì thầm :" Vừa nãy anh ngủ thiếp đi, tôi tĩnh tâm lại nên mới nghe thấy tiếng động này, hình như trong thân cây có người ...." 

Tôi cũng khẽ hỏi :" Người á?Sao cô khẳng định không phải là động vật?" 

Shirley Dương nói :" Âm thanh nhỏ, quái dị, lại không có quy luật gì, thoạt đầu tôi cũng nghĩ là do động vật phát ra, nhưng mới rồi lắng nghe thật kỹ, nhận ra trong đó có một đoạn tín hiệu Morse, nhưng tín hiệu này chỉ xuất hiện một lượt, sau đó lại trở nên bất quy tắc, có lẽ vì âm thanh tương đối nhỏ, nên rất có thể tôi nghe bị sót mất một phần ..." 

Tôi như người đi giữa đám sương mù, nhưng cảm giác bất an trong lòng lại càng dâng lên mãnh liệt. Tôi nói nhỏ với Shirley Dương :" Tín hiệu Morse? Tức là mã điện báo quốc tế chỉ có hai tín hiệu ngắn và dài ấy à? Cô đã nghe được điều gì thế?" 

Shirley Dương nói :" Ba ngắn ba dài ba ngắn, tức là tạch tạch tạch, tè tè tè, tạch tạch tạch. Dịch ra được tín hiệu cầu cứu thông dụng trên khắp toàn cầu - SOS". 

Tôi nói với Shirley Dương :" Cô đừng tự hù dọa mình nữa đi, mã Morse được dùng rộng rãi nhất thế giới thật, nhưng dù sao nó vẫn là mã điện báo thay thế chữ cái tiếng Anh. Ở chốn rừng rú này, ngoài lão mù và đồng bọn đã đến đây vào những năm Dân Quốc, thì chỉ có mấy người thợ khai thác đá mò vào, cũng chỉ vì tò mò mà đi qua sơn động vào rừng nhìn ngó rồi quay về. Dân địa phương thì rất mê tín, không dám vào rừng rậm sau núi Già Long, vì họ sợ gặp phải ma ... ma ..." 

Nói đến chữ cuối cùng, tôi cũng cảm thấy không được tốt lành lắm, vội nhổ nước bọt, lòng thầm nhẩm niệm :"Bách vô cấm kỵ" 2. 

Shirley Dương xua xua tay, bảo tôi đừng nói nữa để nghe lại thật kỹ. Âm thanh ấy lại vọng ra từ trong thân cây, lần này thì nghe rất nét, tiếng dài tiếng ngắn, đúng là ba ngắn một dài và ba ngắn, tiếng ngắn gấp gáp, tiếng dài nặng nề. 

Shirley Dương lục túi lấy đèn pin mắt sói ra, nói :" Tôi leo lên xem sao". 

Tôi kéo ngay cô nàng lại, nói :" Không được! Cô nhìn xem, ánh trăng đang có sắc đỏ, sương mù mỗi lúc một nồng đậm, trong cây kia chắc chắn có người chết, âm thanh đó chính là tín hiệu ma trong truyền thuyết đấy". 

Shirley Dương hỏi :" Tín hiệu ma là gì? Sao tôi chưa từng nghe nói nhỉ?" 

Tôi mới trả lời cô nàng rằng :" Chắc cô không biết, trong bộ đội vẫn hay kháo nhau rằng có một số đơn vị đóng quân ở miền núi vùng biên, điện đài thường nhận được những tín hiệu khó hiểu, những tín hiệu ấy chấp chới ngắt quãng, lúc thì cầu cứu, lúc thì cảnh báo ... toàn là những nội dung hết sức kỳ quặc. Bộ đội nhận được những làn sóng điện ấy, cho rằng có người gặp nạn đang cầu cứu, đa phần sẽ cử người đến địa điểm phát ra tín hiệu để tìm kiếm, nhưng hễ đi là không về nữa, cứ như đã bốc hơi khỏi thế gian này rồi vậy, cả những tín hiệu quái quỷ ấy cũng im bặt không thấy gì nữa, cho nên mới gọi là tín hiệu ma trong truyền thuyết". 

Shirley Dương đã đội mũ bảo hiểm leo núi lên đầu, nói với tôi :" Những chuyện đồn đại hão huyền vô căn cứ ấy, chính xác sao được? Nơi này đã nằm trong phạm vi khu mộ Hiến vương, cho nên bất cứ hiện tượng dị thường nào cũng đều có khả năng liên quan đến mộ Hiến vương, chúng ta phải tra cho rõ ngọn ngành sự việc. Vả lại, lỡ mà có người bị kẹt trong đó đang cầu cứu thật, thì chúng ta không thể thấy chết mà không cứu được". 

Nói rồi, Shirley Dương dùng cái cuốc chim chuyên dùng leo núi ngoắc lên một cành cây to chắc, mượn sức trèo lên, động tác vô cùng nhanh nhẹn, chỉ vài lần đu đã lên đến lưng chừng cây. Hai cây đa phu thê xoắn vào nhau, cao đến hai chục mét, tán lá xòe rộng đến hơn trăm mét che kín cả ánh trăng, thêm nữa cành lá quá chi chít rậm rạp, đứng dưới gốc cây dùng đèn pin mắt sói chiếu lên chỉ nhìn thấy được chục mét là cùng. 

Đèn pha của chúng tôi đã bị phá hủy, cách chiểu sáng hữu hiệu nhất lúc này là giở súng bắn pháo hiệu ra bắn một quả, nhưng còn chưa vào đến Trùng cốc, dọc đường lại không có tiếp tế, cho nên không thể sử dụng xả láng ở đây được. Thấy Shirley Dương leo mỗi lúc một cao, tôi rất lo cho sự an toàn của cô, bèn vội đánh thức Tuyền béo đang rúc trong túi ngủ, bảo đứng dưới cây tiếp ứng, rồi đội mũ bảo hiểm leo núi, bật ngọn đèn gắn trên mũ, bám các nhánh cành và trèo lên theo. 

Tuyền béo vừa thức dậy, chưa hiểu rõ tình hình ra sao, tay giương "Kiếm Uy" đứng dưới luôn miệng hỏi tôi xem là chuyện gì. Tôi mới trèo được khoảng một phần ba, nhìn xuống thấy Tuyền béo cứ ngơ ngơ ngác ngác cầm súng đi đi lại lại, bèn dừng lại, cầm cái cuốc chim leo núi gạt cành lá ra, cúi xuống nói :" Cậu đừng chĩa súng lên, coi chừng bị cướp cò thì tôi đi đời! Hình như bên trong cái cây này có gì đó, chúng tôi trèo lên xem xem rốt cuộc là thế nào. Cậu cứ đứng dưới cảnh giới, chớ có chủ quan". 

Lúc này Shirley Dương đã trèo lên rất cao, bỗng kêu lên :" Có một mảnh thân máy bay mắc kẹt trên này, hình như là máy bay của không quân Mỹ". 

Nghe thấy thế, tôi vội huy động cả tay lẫn chân lần theo ánh đèn trên mũ của Shirley Dương mà trèo lên, thấy cô đang đứng giữa tán cây, tay sờ vào một vật thẫm màu, tôi còn cách xa nên không nhìn rõ nó là thực vật hay là xác máy bay. 

Khi trèo đến bên cạnh Shirley Dương, tôi mới nhìn rõ, dưới ánh trăng bàng bạc êm dịu như sương, có một đoạn khoang máy bay rất lớn cắm xiên vào giữa hai cây đa, cánh và đuôi máy bay không rõ đã đi đâu, thân bị thủng vài chỗ khá to, bên trong lỗ thủng nhét đầy các thứ gì đó, không thể nhìn rõ. Cánh cửa của khoang máy bay đạ bị bật ra, méo mó biến dạng, có rất nhiều chỗ han gỉ loang lổ, bám đầy rêu xanh và dây leo, hầu như đã trở thành một phần của cây gắn liền với cành lá, càng máy bay bị kẹt cứng giữa các cành cây. 

Tôi ngoảnh nhìn về phía ngọn núi Già Long cao vút vươn xa ở đầu kia, thầm nhủ có lẽ chiếc máy bay này đã đâm phải núi, gãy thành mấy đoạn, phần khoang vừa khéo rơi đúng tán cây đa. Xung lực lớn như vậy, quanh đây chắc cũng chỉ có hai cây đa phu thê cao to hiếm thấy này chịu đựng nổi. 

Shirley Dương chỉ cho tôi đám thực vật màu lục che phủ thân máy bay mà cô vừa dùng dao lính dù nạo đi, trên đó rành rành hiện ra một chuỗi ký tự C5X-R1XXX-XX2 ( X là chữ cái đã bị mờ không nhận ra), tôi không hiểu các quy tắc trong không quân Mỹ, bèn hỏi Shirley Dương :" Là máy bay ném bom của không quân Mỹ? Hay là đội Phi Hổ chi viện cho Trung Quốc thời kháng Nhật?" 

Shirley Dương nói :" Tôi chưa phát hiện thấy biểu tượng của đội Phi Hổ trên mảnh thân này, chắc là phần còn lại của một máy bay vận tải kiểu C của không quân Mỹ, có khả năng nó cất cánh từ căn cứ Calcutta ở Ấn Độ trong Thế chiến II, chở vật tư cho quân viễn chinh Trung Quốc đang chiến đấu ở Myitkyina Mianma. Nếu là đội phi hổ chi viện cho chiến khu Trung Quốc thì phải có biểu tượng rất rõ ràng". Tôi gật đầu :" Chỗ này cách Mianma không xa, tôi xem bản tin thời sự, thấy bảo rằng vùng Đại Hiệp Cốc của Nộ Giang và núi Cao Lê Cống ở rất gần nơi này đã lần lượt phát hiện được vài chục xác máy bay vận tải của không quân Mỹ. Trong ba năm từ 1942 đến 1945, trên đường bay Trung Quốc - Mianma và sau đó là đường bay Đà Phong 3, quân đội Mỹ đã bị rơi không dưới sáu bảy trăm máy bay vận tải xuống lãnh thổ Tây Nam Trung Quốc, thật không ngờ ở đây cũng có một chiếc". 

Tuyền béo đợi dưới gốc cây thấy sốt ruột, ngoác miệng gọi to :" Hồ Bát Nhất! Hai người đứng trên cây bàn chuyện móc nối làm ăn gì vậy? Lại còn bắt tôi đứng đây canh gác nữa hả, trên cây ấy rốt cuộc là có cái gì thế?" 

Tôi tiện tay bẻ một cành cây ném xuống chỗ Tuyền béo :" Ông lẻo nhẻo cái gì thế? Chúng tôi tìm thấy một cái xác máy bay vận tải của Mỹ trên này, chúng tôi xem xét cho rõ đã rồi sẽ xuống..." 

Tôi mới chợt nhớ đến chuyện lúc nãy có tiếng gõ tín hiệu cấp cứu phát trong thân cây, đưa mắt nhìn mảnh vỡ của chiếc máy bay vận tải, đụng nát ra thế này, sao có thể còn ai sống sót, tín hiệu kia rốt cuộc là thế nào? Chẳng lẽ là âm hồn của tổ lái chưa tan vẫn không ngừng cầu cứu ... 

Tầng mây trên cao bỗng che khuất mặt trăng, trên cây lập tức tối sầm, tôi nín thở, vẫy tay ra hiệu cho Shirley Dương cùng áp tai vào thân máy bay nghe xem bên trong có tín hiệu Morse kỳ dị ấy nữa không. 

Điều này chẳng khó gì, tôi vừa áp tai vào khoang máy bay liền nghe thấy bên trong vang lên ba tiếng "keng,keng, keng" gấp gáp. Âm thanh vang lên hết sức bất ngờ, tôi giật bắn mình kinh hãi, nếu không phải là tay trái đang nắm cái cán cuốc chim đu vào cành cây thì có lẽ tôi đã ngã lộn phộc xuống rồi. 

Tôi và Shirley Dương từ đầu chí cuối đều không dám gây ra một tiếng động nào đáng kể, ngoài mấy câu tôi quát Tuyền béo đứng bên dưới, hai chúng tôi chỉ khẽ thì thầm, từ lúc trèo lên cây, chúng tôi không nghe thấy cái thứ "tín hiệu ma" kia nữa, giờ bỗng nhiên có âm thanh vang lên trong thân máy bay, vì khoảng cách quá gần, âm thanh nghe rõ mồn một, làm sao có thể không hoảng hồn cho được. 

Tôi và Shirley Dương đưa mắt nhìn nhau, vẻ mặt cô nàng hết sức nghi hoặc nói :" Quái đản thật, chẳng lẽ bên trong có cái gì đó thật? Vừa nãy tôi thấy trên nóc khoang máy bay có một chỗ bị vỡ, chúng ta thử nạy ra xem bên trong thế nào". 

Shirley Dương còn không sợ, tôi đương nhiên cũng không thể tỏ ra sợ sệt, bèn gật đầu tán thành :" Được! Nếu trong đó còn xác phi công Mỹ thì chúng ta sẽ tìm cách chôn tạm họ ở đây, rồi đem giấy tờ của họ về, tiếp đó là thông báo cho lãnh sự quán Mỹ đến mà lấy hài cốt. Người Mỹ không câu nệ cái kiểu " thanh sơn xứ xứ mai trung cốt" 4, chắc chắn sẽ phủ quốc kỳ lên tử sĩ mà đưa về quê hương". 

Shirley Dương nói :" Tôi cũng nghĩ như anh, chúng ta hành động thôi, nếu chẳng may trong khoang có ... có cái gì đó,thì dùng móng lừa đen của Mô kim Hiệu úy mà đối phó!" 

Tôi cố tỏ vẻ bình tĩnh, cười rằng :" Dù có cái gì thì chúng ta cũng không sợ, đây là mày bay vận tải quân dụng, chưa biết chừng bên trong lại có vật tư quân dụng gì đó, tốt nhất là có thuốc nổ, đổ cái đấu Hiến vương này không chừng sẽ cần dùng đến đấy". 

Tôi chọn một chạc cây có thể đặt chân, lại đóng một cái chốt cố định vào kẽ nứt trên thân cây, lấy dây thừng leo núi buộc chặt người vào đó, rồi cầm cuốc chim nạy cái mảnh kim loại méo mó biến dạng trên nóc thân máy bay. 

Shirley Dương ở bên cạnh dùng dao lính dù cắt dây leo bám bò trên bề mặt mảng sắt, hỗ trợ tôi nạy mảnh kim loại ra. Vì đã bỏ hoang hơn bốn mươi năm, máy bay lại bị hủy hoại tương đối nghiêm trọng, bị cây đa lâu năm phát triển chèn ép, nên tôi chỉ bật được một nửa mảnh kim loại, nửa kia chết cứng ở đó, đứng trên cây chơi vơi rất khó vận hết sức lực cho nên không thể làm gì hơn nữa. 

Tôi nhoài người trên lỗ thủng, định nhìn xem bên trong rốt cuộc là vật gì đang không ngừng phát tín hiệu, Shirley Dương đứng sau, tay cầm khẩu súng 64 và chiếc móng lừa đen yểm trợ. Ban đêm trong rừng, đèn chiến thuật gắn trên mũ hiệu quả hơn nhiều so với lúc trong hang động tối om không nhìn thấy năm ngón tay, dùng để quan sát tình hình trong khoang máy bay này là cũng đủ rồi. 

Tim tôi như muốn nhảy lên đến tận cổ họng, từ từ ghé đầu vào, lúc này trong rừng yên tĩnh lạ thường, tiếng "tưng tưng tưng" trong khoang máy bay vang lên từng tiếng từng tiếng một, mỗi tiếng đều khiến tim tôi thót lên cao một chút. 

Ánh đèn trên đầu chiếu vào trong khoang tối đen như mực, nhìn thấy trước hết là chiếc mũ phi công, hình như xác người phi công vừa khéo treo ở đúng chỗ tôi vừa nạy tấm kim loại ra, người ấy đang cúi đầu, rất có thể đã bị gãy cổ khi máy bay rơi, đầu gục xuống trước ngực. Thân máy bay biến dạng tương đối nghiêm trọng, cái hốc này khá hẹp, nên tôi chưa thể nhìn thấy tình trạng của thi thể bên dưới cái mũ, nhưng có thể khẳng định rằng góc gập giữa đầu và thân như thế này không thể là tư thế của người còn sống. 

Tôi thò tay vào định nhấc cái mũ phi công lên, không ngờ cái mũ đang gục xuống ấy bỗng khẽ động đậy mấy lần, hình như nó muốn vận sức để ngẩng lên. Mỗi lần động đậy lại phát ra âm thanh như gõ vào tấm sắt. 

Toàn thân tôi ướt đẫm mồ hôi, thầm kêu lên một tiếng :" Khốn nạn thân tôi!". Phen này chắc chắn là gặp phải cương thi rồi, hồi nhỏ tôi sợ nhất là nghe kể chuyện cương thi nằm trong quan tài gõ nắp quan lộc cộc, hôm nay gặp hàng thật rồi, chẳng rõ cái móng lừa đen của Mô kim Hiệu úy từ xưa dùng để khắc chế cương thi có được việc không nữa. 

Tôi đâm liều, một tay cầm cuốc chim nhấc cái mũ phi công nứt vỡ ấy lên, tay kia cầm móng lừa đen dúi vào, nhưng phía dưới chiếc mũ bỗng phóng ra một luồng sáng vàng cực mạnh...
--------------------------------
1Lăng phụ.
2Không phải kiêng kỵ gì hết. Ý nói " không sao, không sao cả..."
3Đường bay Đã Phong ( tiếng Anh : The Hump) là tên được phi công quân đội Đồng minh đặt cho đường bay từ Ấn Độ sang Trung Quốc qua dãy Himalaya, dùng để vận chuyển vật tư quân sự cho quân đội Trung Quốc chống Nhật và hỗ trợ lực lượng không quân Mỹ ở Trung Quốc. Đây là một đường bay cực kỳ nguy hiểm.
4Những con người trung liệt mai táng ở chốn núi rừng ( thơ cổ).

Ma Thổi Đèn Tập 3: Trùng Cốc Vân Nam - Chương 8: RỪNG RẬM


Shirley Dương trầm trồ :" Những cây hoa kia có lẽ là lan hồ điệp, không ngờ lại thu hút được rất nhiều bướm phượng vĩ hoàng kim ... cả bướm kim đới phượng ... còn có cả bướm kim tuyến đại thái rất hiếm gặp nữa, trông như những đám lá của cây vàng bị gió thổi đung đưa trong vườn hoa bên bờ biển Aegean của các vị thần trong thần thoại Hy Lạp ấy". 

Tôi không hiểu gì về loài bướm, giương ống nhòm nhìn hồi lâu, ngoài bươm bướm và cây cối hoa lá ra, chẳng thấy dấu hiệu của sơn cốc, khê cốc gì hết. Thảm thực vật ở đây quá dày, che kín mít mọi địa hình địa mạo, không thể nhận ra đâu là thung lũng đâu là khe suối, nhìn từ trên xuống, thấy cao thấp nhấp nhô, tất cả đều là những thực vật rậm rịt đặc trưng của vùng cận Bắc chí tuyến, rất khác với rừng rậm nguyên thủy ở Đại Hưng An Lĩnh mà chúng tôi quen thuộc. 

Vẫn có câu " cây trội giữa rừng, ắt bị gió quật". Tán cây ở Đại Hưng An Lĩnh thường cao xấp xỉ nhau, các loài cây có thể hợp sức để chống chọi gió lớn. Còn đây là vùng đất có nhiều sông núi vây quanh, bồn địa thung lũng nằm giữa có địa thế trũng thấp, mặt khác, Vân Nam bốn mùa như nhau, không có khí hậu gió mùa, những nơi càng thấp thì càng ẩm ướt triền miên, nhiệt độ cả năm đều giữ ở khoảng 25-30 độ C, quanh năm chẳng có một cơn gió, cho nên các loài thực vật cứ thả sức mà sinh trưởng. Trong rừng rậm, các loài cây leo thân to, thân gỗ và thân thảo tùy đặc tính của mình mà mọc cao thấp khác nhau, lô nhô xen kẽ, cao nhất là cây chò chỉ nổi tiếng của Vân Nam, cây này vốn chỉ có ở phía Nam chí tuyến Bắc, nhưng địa thế của vùng núi này thấp trũng nên cũng mọc không ít cây chò chỉ đội trời đạp đất. 

Chỉ có một số ít hồ đầm tương đối lớn mới không bị cây cối che phủ, những vùng càng sâu xa heo hút lại càng nhiều mây mù bao phủ, đứng xa nhìn không thể nhận ra điều gì. 

Tóm lại là không thể chỉ vì nhìn thấy những đàn bướm vàng cỡ đại kia mà chủ quan tiến vào rừng rậm, mức độ phức tạp của rừng rậm nơi đây khó có thể dùng lẽ thường mà suy đoán được. 

Bản đồ bằng da người được vẽ từ thời Hán, truyền đến ngày nay đã cách hai ngàn năm, những đặc trưng về địa hình địa mạo mà nó ghi chép nay đã biến đổi khác hẳn, ngoại trừ một số vật mốc và địa điểm đặc biệt ra, thì không thể dùng bản đồ này để tham chiếu chính xác được. 

Theo như lão mù nói thì cách đây vài chục năm, đoàn lực sĩ Xả Lĩnh của lão đã mang theo thuốc nổ thô sơ tiến vào Trùng cốc - chính là khu vực phía trước khê cốc hình thành bởi sông Rắn - khi ấy đã trông thấy một đàn bướm rất lớn. 

Nhưng ai dám đảm bảo rằng ngoài Trùng cốc ra các nơi khác đều không có bươm bướm, cho nên tạm thời chưa thể xác định nơi ấy chính là lối vào Trùng cốc, nhất thiết phải tìm ra đặc điểm mà lão mù nói: trong sơn cốc có một đoạn tường đổ nát. Đó là di tích của một bước tường cổ xây trên sông Rắn, hình như là một cái đập dùng để ngăn nước sông trong khi xây mộ Hiến vương, sau khi Hiến vương nhập liệm, liền bị đập đi, khôi phục lại "thủy long huân" trước mộ ông ta. 

Chỉ khi tìm thấy đoạn tường đổ ấy thì mới có thể coi đó là căn cứ để xác định vị trí của Trùng cốc, biện pháp chắc ăn hơn cả là làm như đoàn lực sĩ Xả Lĩnh năm xưa, ra khỏi núi Già Long, đừng vội tiến vào rừng, mà đi dọc theo mạch núi tiến lên phía Bắc để tìm sông Rắn, sau đó đi dọc theo sông Rắn tiến vào sơn cốc, như vậy có thể bảo đảm không đi chệch đường. 

Tuyền béo nói vẫn còn một cách khác, đó là lại lần vào nhánh sông đào bên trong núi Già Long, đi dọc theo đường sông cổ ấy để tìm sông Rắn. Nhưng vì thượng du sông Lan Thương mưa nhiều, các nhánh sông lớn nhỏ nối liền với nhau, thành ra vô cùng phức tạp, thậm chí còn có khả năng đã thay dòng chảy xuống lòng đất, con sông cổ sớm đã bị xác thực vật và bùn đất lấp kín, cho nên phương pháp mà Tuyền béo nói không khả thi chút nào. 

Ba chúng tôi bàn bạc một hồi, xem đồng hồ, lúc này là ba giờ rưỡi chiều. Khoảng 9 giờ sáng nay chúng tôi bắt đầu đi bè tiến vào núi Già Long, cho đến giờ vẫn chưa hề nghỉ ngơi, vì vậy bèn quyết định coi chỗ này là điểm chuyển tiếp, nghỉ ngơi hai mươi phút, sau đó sẽ đi lên hướng Bắc, tranh thủ tìm được lối vào Trùng cốc trước khi mặt trời lặn, rồi cắm trại ở đó, sớm mai sẽ tiến vào. 

Chúng tôi tìm một chỗ tạm bằng phẳng ở dốc núi ngồi xuống, ăn một ít bánh tẻ và thịt bò cho đỡ đói. Tuyền béo nhắc đến lũ cá ăn thịt người, nghĩ đến cái hồ trong núi máu me đỏ lòm chẳng khác gì "huyết trì" ở địa ngục trong truyền thuyết ... tôi phát ớn chẳng thiết ăn gì nữa. Tôi bỗng thấy chột dạ, nghĩ rằng lỡ mà đàn cá răng sắc hơn răng cưa ấy lại xuôi theo dòng rồi bơi vào sông Rắn thì sẽ phải làm sao đây? Nếu dưới nước có lũ cá ấy thì chúng tôi không thể nhảy xuống chui vào mộ Hiến vương được. 

Shirley Dương nói :" Đừng lo! Trước đây tôi làm phóng viên ảnh của tạp chí địa lý, đã từng đọc rất nhiều tài liệu về các loài động thực vật, cá rắn viper có mặt ở Ấn Độ, Myitkyina, Lào của châu Á và những vùng sông nước gần chí tuyến Bắc và các khu vực vĩ độ 20 của châu Mỹ". 

Trong đó thì Ấn Độ cổ là có nhiều nhất, kinh Phật chép rằng Ấn Độ thời A Dục Vương trị vì, từng có năm cá rắn viper đã trở thành mối đại họa. Năm ấy vừa đúng dịp sông Hằng dâng nước lũ lớn trăm năm chưa từng thấy, một dòng sông chảy ngầm dưới dãy núi Ghats Đông tràn vào một tòa thành gần đó, vô số người và gia súc đã bị làm mồi cho cá. 

Tổ tiên của cá rắn viper là cá lợn răng hổ sống vào thời kỳ hậu băng hà. Chúng sống ngoài đại dương, thân mình có bộ phận phát sáng, một đàn cá lợn răng hổ có thể trong nháy mắt hạ gục một con Basilosaurus, là bá chủ đại dương thời ấy. Về sau, những biến đổi to lớn của thời kỳ kế băng hà đã khiến loài cá này bị thiên nhiên đào thải một cách tàn khốc, hậu duệ của chúng là cá rắn viper cũng dần biến thành cá nước ngọt. 

Cá rắn viper ghê gớm thật nhưng lại có một nhược điểm rất lớn. Chúng chỉ có thể sống ở vùng nước có nhiệt độ tương đối thấp, quanh chí tuyến Bắc chỉ có những vùng nước lạnh trong các hang đá là thích hợp để chúng sinh tồn, ở những vùng nước ấy có một loài tôm vỏ cứng không mắt, nhiều vô kể, nhưng vẫn không đủ cho lũ cá này ăn, cho nên cũng thường xảy ra những cuộc tàn sát nội bộ. Một đàn cá rắn viper đông đúc, sau tháng Chín hàng năm thường chỉ có 1% sống sót đến thời kỳ đẻ trứng cuối cùng. 

Trung thu trăng tròn mỗi năm là thời kỳ cá rắn viper đẻ trứng, bản thân chúng không thể sinh tồn ở nơi quá nóng, nhưng lý do chúng sống ở vùng gần chí tuyến Bắc hơi ấm là bởi chúng phải đến miền nước ấm để đẻ trứng. Đẻ trứng xong, cá rắn viper chết luôn, trứng cá được ủ trong nước ấm để phát triển, nở thành cá con rồi lại bơi về vùng nước lạnh tiếp tục sinh tồn. 

Môi trường sống khác thường của cá rắn viper khiến chúng trở nên ít ỏi, không gian sinh tồn rất hẹp. 

Mùa này không phải kỳ đẻ trứng của chúng, cho nên khỏi phải lo chúng bơi ra ngoài hang động, nhưng lúc trở về thì phải thận trọng. Vì lượng mưa quá lớn, đường thủy trong núi Già Long thông nhau như mạng nhện, nếu trở về theo đường cũ không chừng sẽ gặp phải chúng ở một chỗ nào đó trong sơn động cũng nên. 

Nghe Shirley Dương giải thích tường tận về cá rắn viper, tôi và Tuyền béo mới hơi yên tâm. Tuyền béo cảm thấy lúc nãy mình tỏ ra nhút nhát, giờ muốn gỡ lại thể diện, bèn nói với tôi và Shirley Dương :" Bọn cá tôm thối tha thì làm được trò trống gì, tôi thấy chúng hơi ... cái gì ấy nhỉ, ấy là vì Mao chủ tịch đã từng dạy chúng ta rằng, về mặt chiến thuật thì phải coi trọng kẻ địch". 

Shirley Dương nói :" Chuyện về đàn cá thì không đáng lo, tôi vẫn nghĩ đi nghĩ lại mãi, hình như các pho tượng người treo ở giữa dòng sông không đơn giản là để nuôi con trăn khổng lồ kia đâu ... Trùng thuật vô cùng quái dị, thực sự là không sao đoán thấu được, may mà có đàn cá rắn viper vớ vẩn thế nào lại xông ra, nếu không đã xảy ra những chuyện gì cũng khó mà biết được. Chưa vào đến Trùng cốc mà đã gặp bao rắc rối rồi, chúng ta nhất định phải hành động cho thật chắc ăn, hết sức cẩn thân mới được ...". 

Sắc mặt ai nấy đều nặng nề, chuyện đổ đấu lần này là hành động liên quan đến sinh tử tồn vong, chẳng khác nào phi ngựa bên vách núi cao không có đường lui, chỉ cho phép thành công chứ không được thất bại. 

Ngồi nghỉ một lúc rồi, chúng tôi giở bản đồ tuyến độ cao của núi Già Long ra, bản đồ này cực kỳ đơn giản, sai số rất lớn, chúng tôi dùng la bàn so chuẩn hướng, xác định lại độ cao so với mực nước biển và phương vị, chỉnh sửa lại số liệu trên bản đồ, đánh dấu phương vị của lối ra, xong xuôi đâu đó ba người lại tiếp tục hành trình, lên đường đi tìm sông Rắn. 

Nhánh nhỏ nhất của sông Lan Thương chính là sông Rắn mà chúng tôi muốn tìm, đoạn sông chảy vòng qua núi Già Long nước rất xiết, chêch lệch độ cao vô cùng lớn, có khúc sông chảy luồn xuống lòng đất hoặc vũng sình lầy trong rừng, có chỗ lại chảy theo sườn núi rồi đổ thẳng xuống, thác này tiếp nối thác kia, lòng sông toàn là những xoáy nước khổng lồ, thuyền bè không thể đi qua, lại vì dòng chảy quanh co ngoằn ngoèo nên mới có tên là sông Rắn, còn người dân tộc Bạch ở đây gọi nó là "Chê La Lu Lam" nghĩa là " con rồng dữ bị núi tuyết lớn trấn áp". 

Theo lẽ thường thì tìm ra sông Rắn này không khó, nhưng kế hoạch thường khác xa thực tế, thảm thực vật dưới chân núi này quá dày, không thể nhìn được ra các con sông, chỉ còn cách đi men bên núi Già Long, dò dẫm chầm chậm tiến lên vậy. 

Đến lúc này tôi mới nhận ra rằng, ở cái chốn quái quỷ này cuốn "Thập lục từ âm dương phong thủy bí thuật" hoàn toàn không có đất dụng võ. Muốn nhận diện hình, thế, lý, khí thì phải nhìn rõ núi non sông ngòi ra sao, nhưng ở khu vực này đỉnh núi toàn là mây mù, dưới núi toàn là cây cối dày đặc tràn lan, chẳng khác nào cả vùng núi sông bị trát lên bề mặt một lớp bùn xanh đặc sệt, bên trên lại phủ một lớp bông trắng, không biết đâu mà lần. 

Rừng cây dưới vách núi dựng đứng lại càng khó đi, bước vào rồi, bướm chẳng thấy con nào, mà chỉ toàn là ruồi muỗi kiến độc to nhỏ đủ cỡ, lại không có đường đi, đứng trên cao nhìn xuống là một màu xanh rờn, đi vào mới thấy các loài dây leo chằng chịt đan kín, hầu như không có chỗ mà đặt chân, đành dùng xẻng công binh và dao phát mở lối, đồng thời còn phải đề phòng rắn độc và trùng độc tấn công nữa, những gian khổ ấy thật khó mà chịu đựng nổi. 

Lúc này mặt trời đã khuất sau núi, mặt đất đang dần bị bóng tối nuốt chửng, rừng nguyên sinh bị một tấm màn đen trùm lấp, mà chúng tôi còn chưa đi được bao xa, có lẽ không thể tìm ra sông Rắn trước khi trời tối, đành phải chọn một nơi tương đối an toàn để qua đêm vậy. Đêm tối trong rừng rậm luôn đầy rẫy hiểm nguy, đây lại là khu vực nằm giữa núi cao sông lớn, áp suất không khí rất biến động, chúng tôi cần tìm một nơi không có quá nhiều muỗi, côn trùng, và khô ráo một chút để đốt lửa cắm trại thì mới qua đêm được. 

Cuối cùng chúng tôi cũng tìm được một phiến đá xanh rất bằng phẳng nằm giữa hai cây đại thụ, chiếu đèn pin quan sát, thấy xung quanh không có rắn rết sâu bọ gì. Cả ba đều rất mệt, vội lấy nhiên liệu ra nhóm một đống lửa, xung quanh xếp đá nhỏ vây lại. Vì không khí quá ẩm, cần châm đuốc hơ khô phiến đá xanh, sấy khô rêu nấm và hơi ẩm ở các kẽ đá, sau đó mới trải các túi ngủ lên, kẻo khi nằm ngủ sẽ bị khí ẩm nhập vào người rồi sau này sinh bệnh. 

Shirley Dương đã ra khe suối gần đấy lấy nước mang về, lọc xong là có thể uống. Tôi lắp đặt một cái nồi dã ngoại cỡ nhỏ đun ít nước sôi, thả mì gia công mua ở quán trọ Thái Vân vào đun lên, không thêm gia vị gì hết kẻo mùi thơm sẽ thu hút loài động vật nào đó mò đến. Khi mì đã chín, chúng tôi bỏ thêm vài miếng bánh tẻ vào nồi, thế là xong bữa tối. Vì chưa biết còn phải đi trong sơn cốc này bao lâu nữa, nên chúng tôi cũng không nỡ mở đồ hộp ăn. 

Tuyền béo không ngớt ca cẩm thức ăn quá tệ, chẳng khác nào nhai lông chim. Nói đến chim, cậu ta liền thuận tay cầm lên cây "Kiếm Uy" lên định đi kiếm chút dã vị, nhưng trời đã tối hẳn nên đành thôi, rồi lại ngồi xuống, vừa ăn vừa lầu bầu trách tôi nấu chẳng ra sao, nhạt nhẽo vô vị, nhưng vẫn xơi liền ba bát to. 

Ăn xong, chúng tôi quyết định luân phiên ngủ để luôn có người canh chừng, dù sao trong rừng nguyên sinh này ba bề bốn bên đều có hiểm nguy rình rập, ai mà biết được đêm tối sẽ có trùng độc mãnh thú mò đến hay không. 

Ca đầu tiên do tôi canh gác, tôi ôm "Kiếm Uy", nạp đầy đạn cho khẩu súng ngắn 64, ủ đống lửa cháy âm ỉ, sau đó ngồi cách đó một quãng không xa, vừa ê a mấy câu hát quen thuộc cho đỡ buồn ngủ vừa cảnh giác quan sát rừng cây tối đen xung quanh. 

Đối diện với tôi là hai cây đa rất bề thế, thân to tướng như cột đá, tán cây buông rủ nặng nề trùm xuống như cái vung lớn, hai thân cây to xù ôm xoắn vào nhau bốn năm vòng như cái bánh quấn thừng, tạo nên một cặp cây phu thê hiếm thấy, trên thân cành còn có rất nhiều loại hoa và thực vật ký sinh chẳng biết tên gọi là gì, toàn cảnh trông như một cái lẵng hoa đủ màu sắc đặt giữa rừng rậm. 

Tôi đang mải mê ngắm nhìn, chợt bỗng nghe Shirley Dương đang nằm trong túi ngủ lên tiếng :" Hai cây đa ấy chẳng thọ được lâu nữa đâu, thực vật ký sinh trên cây nhiều quá, cây thì già cỗi, dinh dưỡng nhâp không đủ xuất để nuôi kẻ ăn bám, quá nửa thân cây đã rỗng rồi, nhiều nhất là vài ba năm nữa là cây sẽ chết khô. Có những sự vật đến giai đoạn tươi đẹp nhất thì lại cách thời điểm diệt vong không còn xa nữa". 

Tôi nhận ra ẩn ý trong câu nói của cô nàng, nói cái cây nhưng hình như lại ngụ ý nhắc đến lời nguyền động Quỷ đang ám vào chúng tôi. Tôi chẳng muốn nhắc đến những chuyện không vui, bèn nói với Shirley Dương :" Khuya rồi mà cô chưa ngủ à? Chắc là nhắm mắt lại thấy hiện lên hình bóng khôi vĩ của tôi, nên cứ trằn trọc không ngủ được chứ gì?". 

Shirley Dương đáp :" Nếu nhắm mắt lại là nghĩ đến anh thì tốt quá, lúc này tôi hễ nhắm mắt, trong đầu lại hiện lên những pho tượng người trong hang động núi Già Long, càng nghĩ càng thấy lợm giọng, cơm cũng chẳng thiết ăn, đến giờ cũng chẳng ngủ nổi". 

Tôi ngáp dài, rồi nói với Shirley Dương :" Cô đã không ngủ được chi bằng hãy phát huy tinh thần quốc tế chủ nghĩa, đổi gác cho tôi, bao giờ thấy buồn ngủ thì gọi tôi dậy". 

Shirley Dương cười cười nói :" Anh mơ hão vừa thôi, anh và Tuyền béo mà ngủ thì dù sấm vang bên tai cũng không tỉnh dậy. Tôi không ngủ được thì cũng không đổi gác cho anh, kẻo sau nửa đêm anh giả vờ chết không chịu dậy gác nữa thì chết!" 

Tôi lắc đầu thở dài :" Cô làm tôi thất vọng quá, những tưởng cô chẳng quản ngại đường xa vạn dặm, từ Mỹ sang đây để giúp đất nước chúng tôi xây dựng bốn hiện đại hóa, ban đầu vốn là sùng bái cô như sùng bái Bethune 1 ấy, trong thâm tâm luôn nghĩ cô là người có đạo đức và cao thượng, là người có ích cho nhân dân, là người từ bỏ những lạc thú thấp hèn, nào ngờ cô lại ích kỷ tự tư, chẳng quan tâm đến cảm nhận của chiến hữu gì cả, thì ra thái độ giản dị dễ gần mọi ngày của cô đều là giả vờ hết cả!". 

Shirley Dương nói :" Anh nói cũng hay lắm, nhưng lại quá là ba hoa khoác lác, cứ nói phét mãi cũng không hay đâu! Đằng nào thì cũng mất ngủ, chi bằng anh tiếp chuyện tôi đi, nhưng cấm anh không được nói những điều trong Ngữ lục 2 nữa". 

Rừng sâu im phăng phắc, không một làn gió nhẹ, dường như mọi động thực vật thảy đều ngủ say, thỉnh thoảng nghe thấy vài tiếng chim kêu lạ lùng từ xa vọng đến. Tôi buồn ngủ díp cả mắt, Tuyền béo nằm trong túi ngủ, rụt cả đầu vào trong, ngáy khò khò, ngủ say tít. Nhưng Shirley Dương không chịu đổi gác, tôi đành câu được câu chăng cố gượng chuyện trò với cô nàng vậy. 

Cũng chẳng hiểu sao, nói lan man mãi rồi lại nói đến những con trăn đại tướng ở trong rừng rậm. Tôi nói, trước đây ở Bắc Kinh tôi có gặp một đồng đội cũ cùng đại đội, nghe anh ta chuyện ngồi hầm tai mèo ở tiền tuyến. Hồi đó chiến tranh đang tạm bước vào giai đoạn cầm cự giữ miếng, trên chiến tuyến của cả hai bên đều chi chít hầm tai mèo, thực ra chính là chỗ ẩn nấp cho bộ binh phản kích, khi đào hầm tai mèo rất hay gặp trăn núi cỡ đại. Anh ta bảo với tôi, con trăn lớn nhất phải to như con rồng trong truyền thuyết, hồi đó tôi không tin, nay gặp trăn trong núi Già Long tôi mới biết rằng không phải họ nói bừa. 

Tuy nhiên, phần lớn các con trăn không hay chủ động tấn công người, chúng rất lười, cả ngảy chỉ nằm ngủ. Có một số anh lính ngồi hầm tai mèo nóng quá không chịu nổi, cởi trần ra vẫn nóng, bèn đi tìm một chú trăn to đang ngủ trên cây tha về hầm, cả mấy anh nằm nhoài trên mình trăn mát rượi mà ngủ, phải nói là còn dễ chịu hơn cả nằm phòng lắp điều hòa. 

Thế rồi con trăn ấy sống luôn trong căn hầm tai mèo, hằng ngày được người ta cho ăn thịt kho đóng hộp, ăn no rồi lại ngủ, về sau, có hôm chiến sự bỗng trở nên rất ác liệt, đối phương pháo kích liên tục chặn cả đường tiếp tế thức ăn. Một lần, do vị trí đào hầm bất lợi, bị một chùm pháo nã trúng khiến cả tiểu đội ngồi trong chết sạch. Lần khác, pháo bắn liền một tuần, xung qaunh trận địa kiến cũng không thấy đâu nữa. Trong hầm chẳng còn đồ hộp thịt kho, người có thể tạm nhịn ăn nhưng con trăn to thì không nhịn nổi, nó ở hầm đã quen, hằng ngày hít khói thuốc lá của các chiến sĩ, nên cũng đâm ra nghiện thuốc, đuổi thế nào cũng không đi, nó đói đỏ cả mắt, nên chỉ lăm le ăn thịt người, cuối cùng họ đành phải nổ súng bắn chết nó. Họ lột da trăn rồi trải trong hầm, ruồi muỗi chuột bọ đều sợ không dám vào. Có hôm đối phương lợi dụng đêm tối mò sang đánh khu hầm, chiến sĩ canh gác thì ngủ gật nên không phát hiện ra. Tên địch định ném bộc phá vào hầm, nhưng bỗng thấy mình như bị con trăn quấn chặt lấy không cựa quậy gì được, xương cốt gần như bị một sức mạnh ghê gớm ghì vỡ vụn nhưng trên mình rõ ràng là không có thứ gì cả. Hôm sau các chiến sĩ trong hầm tai mèo phát hiện ra tấm da trăn đó... 

Tôi kể chuyện phét cho Shirley Dương, về sau thì cả tôi cũng không hiểu mình đang nói gì nữa, cơn buồn ngủ xâm chiếm không sao gượng nổi, tôi cứ thế ôm "Kiếm Uy" ngủ lúc nào không hay.
--------------------------------
1Henry Norman Bethune, bác sĩ người Canada, chiến sĩ hòa bình sang giúp Giải phóng quân Trung Quốc trong những năm 1938-1939.
2Sổ tay ghi những câu châm ngôn của lãnh tụ ( phổ biến trong thời kỳ giáo điều, cách đây chừng bốn chục năm).